Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

Cảnh sắc Việt Nam đẹp kỳ vĩ nhìn từ trên cao

Thác Bản Giốc, vịnh Lan Hạ, Lăng Cô, đèo Hải Vân...đẹp kỳ vĩ khi nhìn từ trên cao.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 1

Thác Bản Giốc hùng vĩ ở Cao Bằng
Là một nhiếp ảnh gia, nếu không được sở hữu những tác phẩm phong cảnh những nơi đẹp của đất nước mình thật là chưa phải với nghề. Là một tín đồ khám phá, nếu chưa đi hết các địa danh đẹp Tổ quốc mình chưa nên nhận mình là người đam mê du lịch. Tháng 9/2017, đúng vào mùa đẹp nhất của Cao Bằng, để chụp được những tấm hình này, tôi đã bay từ miền Trung nắng gió ra Hà Nội để ngược về mảnh đất Cao Bằng lịch sử sau những chặng đường dài gian nan vất vả.
16h hôm ấy, khi nắng xiên xiên và gió nhẹ, bóng núi đổ tràn trên cánh đồng, tôi cho chiếc flycam cất cánh từ ruộng lúa gần chân thác. Khi "máy bay" lên đến độ cao 150 m nhìn qua màn hình, cảnh tượng thật sững sờ đối với bất cứ ai nhìn thấy. Những mảng màu xanh vàng và bầu trời xanh hòa quyện cùng sắc trắng của dòng suối tạo nên cảnh sắc tuyệt diệu. Ở vị trí chụp cao nhất là 300 m, lúc này, phong cảnh hùng vĩ, trùng điệp càng hiện ra rõ hơn.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 2
 Nằm giáp biên giới Việt - Trung, thuộc địa phận Trùng Khánh (Cao Bằng), Bản Giốc là một thác nước hùng vĩ và đẹp nhất Việt Nam, đồng thời là thác tự nhiên lớn nhất Đông Nam Á. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 3
 Thác có độ cao chừng 70 m gồm 3 tầng với nhiều khối nước lớn đổ xuống trắng xóa nguyên sơ, như dải lụa trắng vắt qua núi rừng. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 4
 Mỗi mùa, thác Bản Giốc mang một vẻ đẹp riêng. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 5
 Vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau) dòng thác chảy nhẹ nhàng, yên ả, vào mùa mưa (từ tháng 6-9) thác nước tung bọt trắng xóa, hùng vĩ cuồn cuộn chảy âm vang cả núi rừng.
Vịnh Lan Hạ, điểm đến đẹp nhất của Hải Phòng
Thành phố cảng nổi tiếng của miền Bắc không có nhiều địa danh đi vào lòng người như các điểm đến khác ở miền Trung hay Nam Bộ. Tuy nhiên, vịnh Lan Hạ nằm giáp ranh giữa Hải Phòng và Quảng Ninh có một vẻ đẹp rất khác.
Cũng là tháng 9, một buổi chiều nắng rực rỡ, thuyền chở phóng viên tiến vào vịnh Lan Hạ từ đảo Cát Bà. Lúc này điều kiện thời tiết hết sức lý tưởng để chụp hình bởi trời xanh, mây trắng, cảnh sắc trong veo. Nếu bạn muốn mô tả vẻ đẹp vịnh Lan Hạ hay Hạ Long rõ nhất đều cần những góc nhìn từ trên cao. Nhưng việc chọn điểm cất cánh flycam thì không dễ chút nào.
Theo kinh nghiệm của nhiều nhiếp ảnh gia, nếu cất cánh trên bãi biển của một hòn đảo nào đó trên vịnh sẽ dễ xảy ra tình trạng khuất núi dẫn đến mất sóng, mất kiểm soát làm rớt flycam.
Tôi đã chọn phương án cất cánh trên boong trong điều kiện thuyền chạy từ từ trên vịnh để người điều khiển luôn nhìn thấy "máy bay" và làm chủ tình hình.
Khi flycam lên đến độ cao 300 m, toàn cảnh vịnh đã được thu gọn trong ống kính. Các bức ảnh thu thập được vào chiếc thẻ nhớ cũng là lúc thuyền chạy tới cuối vịnh. Suốt cả quá trình chụp ảnh, thần kinh người nhiếp ảnh căng như dây đàn. Nó thực sự là pha cất và hạ cánh công phu và kịch tính, cần có sự hỗ trợ tốt của cả người lái tàu lẫn hoa tiêu.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 6
 Vịnh Lan Hạ nằm phía Đông đảo Cát Bà, trông ra cửa Vạn, liền kề vịnh Hạ Long. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 7
Vịnh này có diện tích hơn 7.000 ha nổi bật với vẻ đẹp ngoạn mục của khoảng 400 hòn đảo lớn nhỏ phủ đầy cây xanh hay thảm thực vật. Nhiều hòn đảo ở đây có bãi cát trải dài dưới chân núi đá, yên tĩnh không có sóng lớn. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 8
Dưới làn nước trong xanh là những bãi san hô nhiều màu. Những chiếc thuyền nhỏ xinh thấp thoáng giữa làn nước trong như pha lê. Trong vịnh có hơn 200 hộ dân sinh sống trên các ngôi nhà được thiết kế trên phao tạo thành làng nổi có tên Cái Bèo với lịch sử tồn tại hàng nghìn năm. 
Sự hòa quyện của cảnh sắc đèo Hải Vân - vịnh Lăng Cô
Du khách thường chọn Lăng Cô làm nơi nghỉ dưỡng mỗi mùa hè. Còn đối với người qua đường, chỉ được ngắm địa danh này qua cửa sổ tàu hỏa, ôtô, thậm chí có dừng lại bên đường thì chiêm ngưỡng cảnh sắc Lăng Cô từ xa và chưa hút hết tầm mắt. Nhưng nếu bạn nhìn từ trên cao, có một Lăng Cô rất lạ, rất quyến rũ. 
Tháng 8 là mùa đẹp nhất ở Huế, trời ít mưa và nắng rực rỡ. Những tấm hình tại đây được chụp lúc 16h. Tôi đứng trên đỉnh đèo, gần Hải Vân Quan và cho máy bay lên cao 300-400 m, có lúc lên kịch trần 500 m, gió khá mạnh. Nhìn qua màn hình lúc này cả tôi và bạn đồng hành đều sững sờ không tin vào mắt mình. Lăng Cô quá đẹp, trời xanh, biển biếc, từng tảng mây trắng lập lờ như ngay dưới chân mình.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 9
 Thật không sai khi Lăng Cô được bình chọn là một trong những vịnh biển đẹp của thế giới. Lăng Cô thuộc huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, nằm ngay dưới chân con đèo Hải Vân huyền thoại. Nơi đây có bờ biển thoai thoải, cát trắng rất mịn mà khi bốc lên bạn sẽ thấy như nhúm bột xay đã nhuyễn. Ngoài ra làn nước xung quanh xanh ngắt, trải dài trên bờ cong đẹp nhất miền Trung.  
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 10
Sát Lăng Cô là đèo Hải Vân nổi lên trên nền nước biển xanh ngắt, trải dài khoảng 20 km từ Huế đến Ðà Nẵng. Từ hơn 700 năm nay, đèo Hải Vân (hay còn có tên gọi khác là Ải Vân) vẫn luôn được mệnh danh là “đệ nhất hùng quan”. Đây cũng là một trong những đường đèo đẹp và ấn tượng nhất thế giới. Cảnh quan hai bên đèo mang một vẻ đẹp hoang sơ, bình dị. Nhiều khúc cua uốn lượn, chênh vênh nhưng xung quanh được bao bọc bởi những hàng cây xanh mát, núi rừng hùng vĩ và không khí trong lành.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 11

Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 12

Bức tranh thiên nhiên ở biển Lộc Bình
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 13
 Nằm cách thành phố Huế hơn 40 km, biển Lộc Bình (xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc) cuốn hút bởi vẻ hoang sơ, thanh bình hòa quyện giữa sóng biển, bãi đá và bầu trời xanh ngắt.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 14
Phóng tầm mắt chiêm ngưỡng toàn bộ thước phim về cuộc sống nơi đây du khách sẽ thấy từ những tia nắng sớm đầu tiên, hình ảnh chiếc thuyền buồm dần hiện lên báo hiệu những mẻ cá của người ngư dân đang cập bờ. Nhịp sống bắt đầu trên bến dưới thuyền, những mẻ cá đầu tiên vào bờ, cá trắng lấp lánh ánh bạc, cá tươi giãy tung bọt nước và nước biển xanh trong tạo nên bức tranh thiên nhiên đẹp đầy màu sắc.  
Nét đẹp riêng biệt của biển Cửa Đại, Quảng Nam
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 15
Cửa Đại cách trung tâm phố cổ Hội An khoảng 5 km, nơi con Sông Thu Bồn đổ ra biển lớn suốt ngày đêm. Cửa Đại có một nét đẹp riêng làm say đắm lòng du khách phương xa…Biển Cửa Đại nước trong xanh, cát trắng, đặc biệt càng rực rỡ hơn khi có nắng.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 16
 Nơi đây có lòng sông rộng, nhiều bãi cát bồi, nước lợ nên có nhiều loại tôm, cua, cá… tìm về trú ngụ. Có lẽ vì thế mà từ lâu cư dân vùng Cửa Đại đã quen lấy nghề đánh bắt thủy hải sản để làm kế mưu sinh. Cư dân vùng Cửa Đại có nhiều lối đánh bắt cá tôm nhưng độc đáo nhất có lẽ vẫn là lối kéo vó quay, tiếng địa phương gọi là "rớ chồ". 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 17
 Nghề này không biết có từ bao giờ nhưng hiện nay ở khu vực Cửa Đại có tới hàng trăm chiếc rớ chồ được dựng lên vừa để kiếm cá tôm, vừa tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho vùng cửa biển xứ miền Trung.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 18
 Ngày nay, nghề kéo rớ chồ vẫn là hoạt động mưu sinh chính của hàng trăm hộ gia đình sống ở khu vực Cửa Đại. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 19
 Chính vì vậy mà vào những lúc sáng sớm hay khi hoàng hôn xuống, những chiếc rớ chồ ở Cửa Đại lại lung linh trong ánh nắng và mặt nước mênh mông, tạo nên cảnh đẹp thơ mộng nơi miền sông nước tỉnh Quảng Nam.
Miền đất khô cằn nắng gió Phan Rang, Ninh Thuận
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 20
Đến với Phan Rang, miền đất khô cằn nắng gió mà vẫn duyên dáng, quyến rũ với các nét đẹp hoang sơ. Từ khoảng cách xa cả chục cây số, du khách có thể nhìn thấy những cánh quạt quay đều như những chiếc chong chóng khổng lồ in trên nền trời. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 21
Trên cánh đồng lộng gió, vòng quay đều đều của những cánh quạt trắng muốt nổi bật. Những trụ phong điện giống như những cối xay gió khổng lồ sải cánh vô cùng ấn tượng. Sắc xanh của cỏ cộng hưởng với màu xanh biêng biếc của bầu trời và sắc trắng của những cánh quạt gió tạo nên một khung cảnh thật sinh động.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 22
 Đâu đó ở quanh vùng đất này du khách luôn gặp những khoảnh khắc yên bình an nhiên như thế. Thấp thoáng ở vùng ven biển Nhơn Hải, những cánh đồng muối được kết tinh từ giọt ngọc của biển cả và mồ hôi của người diêm dân. Trên những đôi vai gầy là sản vật của đất trời, những hạt muối do họ tạo ra sẽ trở thành một gia vị không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Trong vẻ đẹp khác biệt của ruộng muối là ẩn chứa bao điều xúc động về sự lao động cần mẫn của con người để mang lại những hạt muối giản dị, nhưng lại làm cho đời thêm mặn mà hơn.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 23
 Khung cảnh sống động kết hợp giữa vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên với vẻ đẹp của sự hăng say lao động. Màu trắng xóa bạt ngàn của đồng muối nổi bật giữa nền trời xanh ngắt và màu nâu của ruộng đồng tạo nên nét đặc trưng cho vùng đất nắng gió.
Bức tranh thủy mặc ở An Giang - Tà Pạ 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 24
Cánh đồng Tà Pạ cách thị trấn Tri Tôn khoảng 1 km, thuộc địa phận xã Núi Tô, huyện Tri Tôn (An Giang). Cánh đồng bạt ngàn dưới chân núi này được xem là độc nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 25
Hiển hiện trước mắt là vẻ đẹp bất tận của cánh đồng, với màu xanh mướt của lúa khi còn non, màu vàng nhạt của lúa vừa trổ bông, màu vàng tươi rạng rỡ của lúa sắp vào mùa gặt và màu vàng đậm trĩu hạt của cánh đồng khi vào mùa thu hoạch. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 26
 Sự trong lành, mát mẻ của không khí nơi đây, cùng với những hàng cây thốt nốt cao vút bao quanh cánh đồng, tất cả hòa quyện lại tạo nên một bức tranh đồng quê thật sinh động, mơ màng.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 27
 Ngắm những ô màu trên cánh đồng Tà Pạ vào bất cứ mùa nào, du khách cũng có thể cảm nhận vẻ đẹp như một bức tranh thủy mặc giữa khung cảnh núi non hữu tình và cảnh mộc mạc của những người nông dân trên ruộng đồng.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 28

Sức hấp dẫn của đảo ngọc Phú Quốc, Kiên Giang
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 29
 Ở vùng biển phía Nam của Tổ quốc, Phú Quốc - hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, và cũng là đảo lớn nhất trong quần thể 22 đảo tại đây. Đảo chính Phú Quốc rộng 578 km2, dài 51 km đẹp hoang sơ với nước biển xanh trong vắt. 
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 30
 Những dòng suối yên bình cùng nhiều hải sản độc đáo và 62% diện tích bao phủ bởi rừng nguyên sinh.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 31

Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 32
 Cảnh đẹp hoang sơ không gian trong lành, biển xanh và cát mịn trắng bên những rặng dừa lao xao.
Anh: Canh sac Viet Nam dep ky vi nhin tu tren cao hinh anh 33
Phú Quốc với núi non trập trùng, một quần thể đảo xanh tươi thơ mộng với dãy rừng nguyên sinh trùng điệp một màu xanh ngút ngát, ẩn chứa bao điều kỳ thú khiến cho hòn đảo ngọc này như một bức tranh sơn thủy hữu tình giữa đại dương. 

https://vtc.vn/anh-canh-sac-viet-nam-dep-ky-vi-nhin-tu-tren-cao-d421969.html

Nhãn: ,

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018

Lịch sử NAM TIẾN

NGUYÊN HƯƠNG

Ðọc lịch sử Việt Nam, người ngoại quốc nhận thấy có hai nét đặc trưng nổi bật: sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam và sự tham gia, hội diện với các nền văn minh bên ngoài, đặc biệt vùng biển Nam Á là nơi họp mặt giao thương của các nước Tây Phương từ thế kỷ 16.
Sức sống mãnh liệt ấy được nhìn thấy rõ qua cuộc Nam Tiến trường kỳ và liên tục (1).
Vừa thoát khỏi vòng đô hộ Trung Hoa giành lại quyền tự chủ, người Việt Nam lần hồi bành trướng lãnh thổ, lấn đất Chiêm Thành trong lịch sử năm thế kỷ, từ đó đi lần xuống đồng bằng sông Cửu Long, đụng độ với Phù Nam-Chân Lạp, lập nên Gia Ðịnh Thành mênh mông trù phú, Nam Việt ngày nay.
Quá trình phát triển đất đai về sau lịch sử gọi là Nam Tiến, hai chữ Nam Tiến viết hoa, bao gồm không những lịch sử cận đại Việt Nam, mà cả lịch sử Chiêm Thành và Phù Nam (Chân Lạp) văn hóa phồn thịnh lâu đời. Có thể nói được rằng lịch sử cận đại Việt Nam một phần không nhỏ là lịch sử Nam Tiến mà cao điểm là thời đại Gia Long, kết thúc với triều đại Minh Mạng hình thành quốc gia Việt Nam văn hiến, hùng cường đầu thế kỷ 19. Nhìn lại lịch sử xa xưa, lãnh thổ nước ta cho đến đời nhà Lý chỉ quanh quẩn vùng núi Hoành Sơn và miền trung du sông Hồng, sông Lam trở xuống; đến đời nhà Trần, chưa vượt quá đèo Hải Vân. Ðời Hậu Lê, cùng với chừng ấy diện tích lãnh thổ, có thêm vùng Thuận-Quảng, dân số tăng gia đến mức độ nhân mãn, đất đai đồng bằng sông Nhị Hà bắt đầu già nua kiệt lực.
Ðất nước đang chuyển mình (mà dấu hiệu đầu tiên là cuộc tranh chấp Nam-Bắc Triều, họ Lê, họ Mạc), cần thêm nguồn sinh lực mới. Ðây chính là thời điểm cuộc Nam Tiến chuyển đổi giai đoạn. Mặc dù phải tận lực đương đầu khó khăn và nguy hiểm với họ Trịnh trong cuộc nội chiến Ðàng Trong-Ðàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khôn khéo, lợi dụng đúng lúc tình hình chính trị bất ổn vì tranh chấp nội bộ của Phù Nam-Chân Lạp, tiếp tục cuộc Nam Tiến xa hơn, từ Tiền Giang-Hậu Giang nối liền đến kinh đô Nam Vang.
Ðàng Trong vừa mở mang bờ cõi phương Nam, nới rộng ranh giới phương Tây; vừa chiếm đất từng bước, vừa khai thác kinh dinh thật sự, chắc chắn vững vàng, tạo thế lực cho một phương Nam hùng cứ khởi sắc.
Ðất đai mới đem lại yếu tố văn hóa; cuộc Nam Tiến ăn sâu bén rễ lâu ngày tạo nên sức mạnh tinh thần cho lớp di dân Ðàng Trong. Sống chung Chiêm Thành và Chân Lạp chỉ mới là lớp sóng xao động Nam Tiến bên ngoài buổi ban đầu giao lưu, sinh hóa, trưởng thành, kết tinh nền văn hóa, văn minh Phú Xuân-Việt Nam chính là điểm thành tựu sau cùng cần được các sử gia ngày nay phân tích sâu rộng.
Nếu chỉ nhìn Nam Tiến như một sự kiện cô lập trong không gian, giới hạn Nam Tiến qua những biên niên năm tháng hay địa danh, sẽ không thấy rõ hết sự nối tiếp liên tục vận động lịch sử mang dấu tích thời đại; nói rõ hơn ý nghĩa và ảnh hưởng Nam Tiến đối với quốc gia dân tộc Việt Nam.
Từ thế kỷ thứ 10, trên giải đất Việt Nam ngày nay đã có ba nền văn hóa, văn minh biệt lập: văn hóa Ðông Sơn nước Ðại Việt, văn hóa Lâm Ấp-Chiêm Thành và văn hóa Phù Nam-Chân Lạp phát triển tận cùng với đế quốc Khmer. Châu Ô, Châu Lý sát nhập vào bản đồ Ðại Việt (1306), Hóa Châu (Huế) đã trở thành địa bàn giao lưu, hội tụ hai nền văn hóa Ðông Sơn và Sa Huỳnh (Chiêm Thành) lâu dần kết tụ thành văn hóa Thuận Hóa-Phú Xuân, riêng biệt với bản sắc Huế nhưng vẫn hòa đồng với văn hóa Ð?i Việt miền Bắc.
Ði xa hơn vào phương Nam, giao thoa với văn hóa Óc Eo-Phù Nam-Chân Lạp, lần này trong một không gian văn hóa tỏa rộng đến thế giới Nam Hải với các hải đảo xa xôi mang dấu tích văn minh Ấn Ð?. Cương giới mở rộng gấp đôi so với các đời Lê, Lý, Trần, Ðàng Trong có đủ điều kiện kết tinh từ văn hóa Thuận Hóa-Phú Xuân đến văn hóa Huế-Việt Nam trong một quốc gia xây dựng trên vương triều hoàn chỉnh, một nền thống nhất to lớn thật sự lần đầu tiên từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Và kinh đô Phú Xuân-Huế từ nay nghiễm nhiên là trung tâm văn hóa cả nước, muôn dặm tạo cơ đồ, đời đời văn hiến, như còn ghi khắc nơi điện Thái Hòa:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ...

Dưới đây trước hết là những nét đại cương về lịch sử Nam Tiến, tiếp theo bàn về ý nghĩa và ảnh hưởng công trình Nam Tiến đối với vận mệnh quốc gia Việt Nam. *

Nhìn lại lịch sử Nam Tiến
Trận chiến lớn đầu tiên Việt-Chiêm xảy ra đời Tiền Lê (905-1005): hai lần vua Lê Ðại Hành cử binh "phạt" Chiêm: Chiêm vương bỏ thành chạy, kinh đô thành trì bị quân ta đốt phá, vàng bạc châu báu tịch thu khá nhiều. Trong thế yếu, Chiêm Thành xin triều cống, nhưng rồi lại tìm cơ hội đối địch, cũng là lẽ tự nhiên xưa nay.
Nối tiếp cuộc hành quân năm 1044 đời vua Lý Thái Tông, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thống lãnh binh mã, đổ bộ lên cửa bể Thi Lợi Bỉ Nại (Sri Banoy) tiến chiếm kinh đô Vijaya. Chế Củ (Rudravarman III) xin dâng ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính (Quảng Bình-Quảng Trị) (2). Cuộc chiếm đất chỉ có tiếng vì sau đó không lâu, Chiêm Thành lại nổi lên đòi lại.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt cử binh đánh Chiêm Thành nhưng không thành công, ngoài việc vẽ bản đồ ba châu nói trên.
Làm lễ cưới công chúa Huyền Trân, năm 1306 Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) xin dâng hai châu Ô-Lý, một năm sau đổi thành Thuận Châu, Hóa Châu. Chế Mân chết, Chế Chỉ và Chế Năng (Chế Ðà A Ba Niên) liên tiếp nối ngôi không ngừng mưu định khôi phục Thuận Châu-Hóa Châu. Vua Trần Anh Tôn năm 1311 lại có dịp "phạt" Chiêm, bắt được Chế Chỉ (Jaya Sinhavarman IV) đem về Thăng Long. Hận thù Chiêm-Việt thêm sâu sắc kể từ đây.
Sau trận chiến Chiêm-Việt năm 1318, nội bộ Chiêm Thành chia rẽ. Thất bại trong việc tranh giành ngôi vua với anh rể Trà Hoa Bồ Ðề (năm 1342), con Chế Chỉ là Chế Mổ chạy sang cầu cứu Ðại Việt. Vua Trần Dụ Tôn cho đưa Chế Mổ về nước (1353), nhưng vừa đến Cổ Lũy (Tư Nghĩa-Quảng Ngãi) thì bị chận đánh, phải trở về Thăng Long.
Mấy năm sau Chiêm vương Trà Hoa Bồ Ðề sai sứ sang đòi lại Hóa Châu. Cuộc vận động ngoại giao không thành, và cả bằng vũ lực sau đó cũng thất bại liên tiếp mấy lần. Ðến lượt nhà Trần suy yếu và nước láng giềng phương Nam vùng dậy. Vị anh hùng của dân tộc Chiêm Thành trong giai đoạn này (1369-1390) là Chế Bồng Nga sau này ra vào Thăng Long "như chỗ không người," vua tôi nhà Trần mấy phen hãi hùng khiếp sợ phải đi lánh nạn.
Lần đầu tiên, năm 1370, thủy quân Chế Bồng Nga đổ bộ cửa Ð?i An (Ðại An hay Ðại Ác, cửa sông Ðáy) kéo lên Thăng Long, đốt sạch cung điện, thâu tóm châu báu vàng bạc đem về.
Mấy năm sau (1376) được tin Chiêm Thành chuẩn bị đánh Thuận-Hóa, từ các tỉnh Thanh-Nghệ đến Thuận-Hóa tiếp vận binh mã lương thực, vua Trần Duệ Tông thống lãnh 12 vạn quân thủy bộ tiến vào cửa Thị Nại (Thi Lợi Bỉ Nại), chiếm xong căn cứ Kỳ Mang (Y Mang) tiến lên kinh đô Ðồ Bàn (Vijaya). Bị mưu kế phục kích của Chế Bồng Nga, vua Duệ Tông tử trận, quân ta một số đầu hàng, một số (trong đó có Hồ Quý Ly) theo đường biển chạy thoát.
Lần thứ ba, tháng 5 năm Mậu Ngọ (1378), càn quét xong Nghệ An, Chế Bồng Nga thẳng đường tiến binh ra Thăng Long tàn phá như hai lần trước. Kết quả sau cùng là lãnh thổ Ðại Việt, từ Thuận Hóa-Tân Bình đến Nghệ An bị quân Chiêm Thành chiếm đóng. Khí thế Chiêm Thành uy hiếp Thăng Long vẫn đè nặng, từ năm 1380 đến năm 1382, cho đến khi Chế Bồng Nga tử trận trên sông Hoàng Giang vì sự phản bội của tùy tướng Bá Lâu Khê. Cái chết của Chế Bồng Nga không những đã cứu nguy kinh đô Ðại Việt mà còn tránh cho nhà hậu Trần khỏi phải ghi lại trang sử bi đát hơn.
Chế Bồng Nga mất, tướng Lã Khải (Ko Cheng, sử Tàu phiên âm) thừa dịp cướp ngôi. Hai con Chế Bồng Nga, Chế Ma Nô Ðã Nan và Chế San Nô chạy sang núp bóng Ðại Việt chờ cơ hội.
Sau ngày Lã Khải mất, lần thứ hai (1402) Hồ Quý Ly sai Ðỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành; Chiêm vương Campadhiraya (Ba Ðích Lại) xin nhường đất Chiêm Ðộng (Indrapura, phủ Thăng Bình, Quảng Nam). Trên đà thắng lớn, Hồ Quý Ly đòi thêm đất Cổ Lũy (Quảng Ngãi). Ðất đai miền Bắc Chiêm Thành (Amaraviti) như vậy thuộc về nước ta. Bất hợp tác, người Chiêm Thành lánh cư chạy xuống miền Nam; vùng Amavariti vừa chiếm được trở thành đồng không nhà trống. Hồ Quý Ly bèn cho thi hành chính sách di dân bắt buộc đối với những người không có ruộng đất cày cấy.
Cũng với biện pháp mạnh, năm 1403 Hồ Quý Ly lại sai tướng Ð? Mãn đem hai vạn quân trở lại Chiêm Thành. Hơn chín tháng trời mới tới được thành Ðồ Bàn (Chà Bàn). Cuộc viễn chinh xa xôi tốn kém nhưng rồi binh lương thiếu thốn, bệnh tật chết chóc, hao binh tổn tướng, cuối cùng trở về không. Việc khai phá vùng đất mới đang phôi thai thì xảy ra cuộc chiến tranh chống xâm lăng nhà Minh lấy danh nghĩa "điếu phạt" nhà Hồ, tạo cơ hội cho Chiêm vương Ba Ðích Lại dùng võ lực thu hồi lãnh thổ, triệt tiêu luôn kế hoạch di dân khai phá đất đai Chiêm Thành của Hồ Quý Ly.
Tìm cơ hội hành quân "phạt" Chiêm, năm 1469 vua Lê Thánh Tông đưa yêu sách ngoại giao khác thường: lễ vật cống hiến. Là phiên vương đối với hai nước Trung Hoa và Ðại Việt, Chiêm Thành phải cống hiến lễ vật hai nước bằng nhau (3). Không chấp nhận đòi hỏi của Ðại Việt hay dựa thế nhà Minh muốn "thử sức" Ðại Việt, đạo quân Chiêm vương Trà Toàn vượt biên giới tấn công Thuận Hóa. Một cuộc hành binh thử sức thật sự vì đánh phá xong lại trở về để rồi năm sau tiếp tục hành quân lớn hơn: mười vạn quân và voi trận, chủ lực tấn công của Chiêm Thành.
Trà Toàn xâm phạm biên cương là cơ hội vua Lê Thánh Tông chờ đợi để thống lãnh 15 vạn quân tướng đổ bộ Sa Kỳ (Quảng Ngãi) chiếm luôn kinh đô Trà Bàn (Chà Bàn - Bình Ðịnh). Trà Toàn bị bắt đưa về Thăng Long nhưng vừa đến Nghệ An thì mất.
Tướng Chiêm là Bô Trí Tri cùng với tàn quân lui về giữ Phan Lung (Phan Rang - Panduranga) tự xưng làm vua, sai sứ xin trở lại thần phục nhà Lê. Núi Thạch Bi giữa hai tỉnh Phú Yên-Khánh Hòa đến mũi Varella tạm thời làm biên giới Chiêm-Việt. Vùng đất Chiêm vừa chiếm được, vua Lê Thánh Tông chia nhỏ thành ba "nước": Chiêm Thành hay Ðại Chiêm, Hoa Anh và Nam Phan (4), mấy tháng sau trở thành phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn.

Nam Tiến thời đại các chúa Nguyễn
Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), phần cực Nam nước Ðại Việt là huyện Tuy Viễn (trấn Quảng Nam). Bên kia đèo Cù Mông (giữa Phú Yên-Bình Ðịnh) là đất đai Chiêm Thành. Năm 1611, trấn thủ Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong vượt đèo Cù Mông mở đầu cuộc Nam Tiến thắng lợi: Ðàng Trong có thêm phủ Phú Yên (về sau đổi thành Trấn Biên) gồm hai huyện Ðồng Xuân và Tuy Hòa.
Năm 1653 đến lượt chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa quân dân vượt đèo vượt núi (Thạch Bi) lấn chiếm lãnh thổ Chiêm Thành đến tận Phan Rang, đặt dinh Thái Khương với hai phủ Thái Khương (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh).
Nam Tiến lại tiếp tục; năm 1692 chúa Nguyễn Phúc Chu chiếm trọn đất Phan Rí, về sau gọi là trấn Thuận Thành (tiếp sau nữa, Bình Thuận). Chiếm đóng bằng võ lực không mấy khó khăn, nhưng cai trị nước người không dễ. Ðể trấn an vỗ về người Chiêm nhiều lần nổi loạn, chúa Nguyễn Phúc Chu phong Kế Bà Tử làm phiên vương để cai trị người Chiêm, hàng năm giữ lệ cống hiến.
Từ căn cứ Thuận-Quảng, đến đây các chúa Nguyễn đã nới rộng Ðàng Trong đến tận Bình Thuận. Cho đến hết đời Kế Bà Tử, Chiêm Thành chỉ còn lại một mảnh đất nhỏ gọi là Thuận Thành và chức phiên vương không thực quyền. Ðàng Trong lập thêm ba dinh mới Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận:
Lịch sử Lâm Ấp-Chiêm Thành, ra đời khoảng năm 190-192 sau cuộc nổi dậy của Khu Liên chống chế độ nhà Hán, đến đây chấm dứt. Người Chiêm Thành còn đó (5), sống chung hòa đồng thuận thảo với người Việt, trở thành công dân Việt Nam nhưng quốc hiệu Chiêm Thành, Champa, Nagara Campa và trước đó Lin Yi (Lâm Ấp) độc lập hùng cường khi Giao Chỉ còn nội thuộc nước Tàu, từ nay không còn nữa trên bán đảo Ấn Ðộ Chi Na. Cuộc Nam Tiến tiếp nối sang giai đoạn khác, quan trọng hơn, ảnh hưởng lớn lao hơn, nhờ đó tạo thành một nước Việt Nam vị trí địa dư hoàn chỉnh, từ Bắc xuống Nam, hình cong chữ S, bao lơn của Thái Bình Dương...
Nước láng giềng phương Nam cùng chung văn hóa, chủng tộc với Chiêm Thành là Phù Nam-Chân Lạp (6), vì hoàn cảnh địa lý chính trị, có khi là đồng minh liên kết, có khi trở thành thù địch với Chiêm Thành, kéo dài chiến tranh đến gần thế kỷ. Phù Nam-Chân Lạp hùng mạnh ở Ðông Nam Á nhờ canh nông phát triển, nhờ tiếp xúc giao thương với Trung Hoa, Nhật Bản và các nước Tây Phương. Giáp giới Chiêm Thành và sau này với Ðàng Trong, Phù Nam-Chân Lạp dù muốn hay không đã tiếp nhận các nhóm di dân tự động Ðàng Trong lần hồi theo làn sóng Nam Tiến đến khai phá rừng hoang, khai canh lập nghiệp, đông đảo nhất vùng Mô Xoài-Ðồng Nai.
Thêm một yếu tố lịch sử thuận lợi bất ngờ: để giữ thế quân bình chính trị và quân sự với Xiêm La, triều đình Chân Lạp đang cần bang giao thân thiện với các chúa Ðàng Trong.
Từ Huyền Trân công chúa đời Trần, lịch sử Nam Tiến đến đây vinh danh thêm một giai nhân lá ngọc cành vàng khác, con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, Hy Tông Hoàng Ðế. Năm 1620, vua Chân Lạp Prea Chey Chetta II đẹp duyên cùng công chúa Ngọc Vạn. Cuộc hôn nhân có ảnh hưởng lớn lao đối với vận mệnh hai nước; thuận lợi cho Ðàng Trong nước Ðại Việt nhiều hơn (7). Nhờ công nương Ngọc Vạn, triều đình Oudong đón nhận một số văn võ quan Ðàng Trong làm "cố vấn" và triều đình Thuận Hóa có thêm cơ hội can thiệp vào nội bộ Chân Lạp. Nhờ sự che chở của hoàng hậu Ngọc Vạn, người xứ Ðàng Trong tự do di dân đến Chân Lạp mỗi ngày một nhiều hơn, bảo đảm hơn.
Năm 1623, sứ bộ Ðàng Trong đến kinh đô Oudong điều đình việc lập đồn kiểm soát quan thuế tại Preykor (Sài Gòn sau này) được quốc vương Chân Lạp chấp thuận dễ dàng. Có Preykor làm đầu cầu chiến lược, việc di dân có căn bản vững chắc, tha hồ tỏa rộng nối dài.
Năm 1658, ba mươi năm sau ngày Prea Chey Chetta II mất, vì sự tranh giành ngôi báu với Nặc Ông Chân và do ảnh hưởng của thái hậu Ngọc Vạn, đám hoàng thân mất ngôi chạy sang nương nhờ chúa Nguyễn. Tướng Nguyễn Phúc Yến theo lệnh chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đem 3000 quân đến Mô Xoài bắt Nặc Ông Chân đưa về an trí tại Quảng Bình và phong cho con trai thái hậu lên làm vua: quốc vương Batom Reacha Pontana Reja.
Năm 1674, Nặc Ông Ðài (Ang Chey) đảo chánh cướp ngôi vua, Nặc Ông Nộn (con thứ hai thái hậu Ngọc Vạn) lại trở về họ ngoại cầu cứu. Chúa Hiền sai cai cơ Nguyễn Dương hành quân tiến chiếm Sài Côn, Gò Bích, Nam Vang. Nặc Ông Ðài tử trận. Ðể tỏ ra đối xử công bằng với các hoàng thân cùng cha khác mẹ đang giành nhau ngôi báu, chúa Hiền phong cho Nặc Ông Thu (Ang Saur) làm chính vương ở Oudong, Nặc Ông Nộn làm Ðệ nhị vương đóng đô ở Sài Côn (Prey Nokor).
Năm 1679, một cộng đồng tỵ nạn Trung Hoa hơn 3000 người, những quan quân nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh với tổng binh Dương Ngạn Ðịch, phó tướng Hoàng Tiến và hai tổng, phó binh họ Trần, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình cùng với 50 chiến thuyền đến cửa Tư Hiền và cửa Thuận an xin yết kiến chúa Nguyễn. Ðang sẵn có ý định khai khẩn vùng đất Ðồng Nai, chúa Hiền sai hai tướng Văn Trình, Văn Chiêu (sử ta không ghi họ) đưa đám quân binh nhà Minh vào Nam, mang theo quốc thơ gởi vua Chân Lạp yêu cầu cấp phát đất đai và đối xử tử tế với nhóm di dân mới, phân chia nhau bọn Dương Ngạn Ðịch định cư ở Mỹ Tho và các tướng tá họ Trần ở Bàn Lân (Biên Hòa).
Nhờ lớp di dân Trung Hoa tỵ nạn này, hai thị trấn được thành lập: Ðại Phố Châu (Cù Lao Phố) ở Biên Hòa và Mỹ Tho đại phố, lần lần trở thành hai trung tâm thương mại phồn thịnh đón tiếp nhiều ghe thuyền ngoại quốc ra vào mua bán. Biên Hòa chính thức sát nhập vào lãnh thổ Ðàng Trong, và Mỹ Tho trên thực tế đã trở thành vùng đất Nam Tiến tự trị.
Năm 1688 Hoàng Tiến nổi loạn giết Dương Ngạn Ðịch, đem quân đóng ở Rạch Nan (Nan Khê) đánh nhau với người Cao Miên, Nặc Ông Thu thừa dịp này cầu viện Xiêm, ly khai với chúa Nguyễn. Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính được lệnh chúa Nguyễn Phúc Trăn vào kinh lược Cao Miên. Nguyễn Hữu Kính đem quân chiếm đóng Nam Vang, giết được Hoàng Tiến và bắt Nặc Ông Thu đem về Sài Côn, đưa con là Nặc Ông Nộn lên làm vua đóng đô ở Gò Bích (Loveik).
Ðồng Nai-Gia Ðịnh đã vững vàng, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức đặt nền cai trị trực tiếp, phân chia lãnh thổ hành chánh, thành lập hai dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Ðịnh), lấy đất Nông Nại (Ðồng Nai) làm huyện Phước Long, Sài Côn làm huyện Tân Bình; bổ nhiệm văn võ quan vào các chức vụ lưu thủ, cai bộ, ký lục; tổ chức quân binh theo cơ đội, bộ binh thủy binh. Thành tích được ghi nhận tốt đẹp hơn cả là chiêu mộ thêm lưu dân từ Thuận-Hóa Châu trở vào, hệ thống hóa các lớp di dân mới cũ thành làng xã, thôn ấp; ruộng đất, nhà cửa, nhân khẩu kê khai theo đinh, địa bộ, như sau này Gia Ðịnh Thành Thống Chí ghi rõ, "... đất đai mở rộng thêm 1000 dặm, dân số trên 40.000 hộ (nhà), mọi người đều được phân chia ruộng đất cày cấy..."
Việc khai phá mở mang tốt đẹp Biên Hòa-Mỹ Tho góp phần công lớn thành lập Gia-Ðịnh-Thành của hai nhóm Trung Hoa tỵ nạn Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên, là món quà Nam Tiến đầu tiên hiến dâng các chúa Ðàng Trong. Như "sách trời định phần" việc Mạc Cửu tiếp sau dâng đất Hà Tiên là một tặng phẩm chiến lược độc nhất vô nhị. Uy quyền triều đình Thuận Hóa-Phú Xuân từ đây tỏa rộng từ Tiền Giang, Hậu Giang đến vịnh Xiêm La. Nhờ Hà Tiên dinh trấn, thế lực chúa Nguyễn còn đi xa hơn, nối liền Thủy Chân Lạp với Lục Chân Lạp, mở đường việc bảo hộ Cao Miên sau này.
Mạc Cửu, người Quảng Ðông, trước đây ở Sài Mạc, buôn bán kinh doanh phát đạt, tập họp lưu dân lập thành bảy xã ở Hà Tiên, thấy Chân Lạp nổi loạn liên miên bèn dâng đất Hà Tiên, thần phục triều đình Thuận Hóa-Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh trấn Hà Tiên làm phiên thuộc (tự trị), tiếp tục công việc khai hóa Hà Tiên; quan trọng hơn cả, canh chừng và ngăn chặn ảnh hưởng Xiêm La.
Mùa xuân năm Nhâm Tí (1732) nới rộng địa bàn hành chánh quân sự, chúa Nguyễn Phúc Trú lập dinh Long Hồ và châu Ðịnh Viễn (Long Hồ, Vĩnh Long nguyên trước là đất Mê Sa và Long Hor do Nặc Tha "xin nhượng," trên thực tế đã thuộc quyền kiểm soát của Ðàng Trong).
Năm 1753, nội tình Chân Lạp rối ren, hoàng gia Cao Miên một số theo về các chúa Ðàng Trong, một số có sẵn cảm tình chủng tộc với Xiêm La, càng thêm rắc rối hơn. Ðể ổn định tình hình, chúa Nguyễn Phúc Trú hạ lệnh cho Thiện Chánh làm thống xuất, Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu vào Cao Miên kinh lược, trọn quyền điều động quân tướng năm dinh từ Bình Khang trở vào. Thành Nam Vang bị chiếm đóng dễ dàng; quốc vương Cao Miên Nặc Ông Nguyên chạy về Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ che chở. Ðể "chuộc tội" đã về hùa theo Xiêm La, cầu viện chúa Trịnh và nhờ Mạc Thiên Tứ tâu xin, Nặc Ông Nguyên được trở lại ngôi vua (1756) xin "dâng" hai phủ Tầm Ðôn và Xoài Rạp.
Nặc Ông Nguyên mất (1757), Nặc Ông Nhuận giữ quyền nhiếp chính, lại dâng thêm đất Trà Vinh và Ba Thát (Ba Thắc - Bassac), chẳng bao lâu lại bị Nạc Hinh giết. Cháu Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên cầu cứu. Sắc phong cho Nặc Tôn làm vua Cao Miên, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Mạc Thiên Tứ tập họp binh mã đem Nặc Ông Tôn về Nam Vang làm lễ tấn phong. Ðể tạ ơn chúa Nguyễn, Nặc Tôn xin dâng đất Tầm Phong Long (An Giang) đồng thời cũng để cám ơn công lao Mạc Thiên Tứ, Nặc Ông Tôn đem năm phủ Vũng Thơm, Cần Bột (Kampot), Châu Sâm, Sài Mạc và Linh Quỳnh làm quà tặng thêm ân nhân Mạc Thiên Tứ. Với phần đất tặng biếu này, đất đai Hà Tiên mở rộng; Mạc Thiên Tứ theo lệnh chúa Nguyễn, đặt Rạch Giá thành đạo Kiên Giang, Cà Mâu thành đạo Long Xuyên.
Như vậy, cùng với việc thành lập trước đây (theo đề nghị của phái đoàn kinh lược Thiện Chánh Hầu và Nguyễn Cư Trinh) các đạo Ðông Nhẫn (Sa Ðéc), đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Ðốc ở Hậu Giang, hầu hết đất đai Thủy Chân Lạp thuộc quyền kiểm soat của triều đình chúa Nguyễn ở Phú Xuân.
Nặc Ông Tôn triều cống người Việt; không thể ngồi yên chờ đợi, vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh liền cử binh tiến chiếm Cao Miên. Ðại quân thủy bộ Xiêm La đem toàn lực uy hiếp Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ và hai con chạy thoát cùng lui về Châu Ðốc liên lạc với đạo quân của Tống Phước Hạp. Chiếm xong Hà Tiên, quân Xiêm La tiến lên kinh đô Nam Vang đưa Nặc Ông Nộn lên làm vua, thay thế Nặc Tôn.
Cuộc đụng độ quân sự lớn lao nhất Việt-Xiêm khởi đầu. Ð?n lượt chúa Nguyễn không thể ngồi yên bỏ rơi Nặc Tôn. Năm 1772 triều đình Phú Xuân hạ lệnh Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Ðàm thống xuất 10.000 quân binh thủy bộ và 30 chiến thuyền phối hợp với đạo quân Long Hồ do Nguyễn Khoa Chiêm chỉ huy tiến lên Nam Vang đánh tan quân Xiêm La, đưa Nặc Ông Tôn trở lại ngôi vua. Với cuộc hành quân chính trị này, triều đình Phú Xuân nắm đủ thời cơ thuận lợi đặt nền bảo hộ nước láng giềng Cao Miên.
Năm 1778 thành Gia Ðịnh về tay nhà Nguyễn Tây Sơn, Xiêm La trở lại chiếm đóng Nam Vang từ đó cho đến năm 1801, đến lượt vua Gia Long giành lại quyền bá chủ Chân Lạp-Cao Miên. "Quyền" bảo hộ được Xiêm La nhìn nhận, thời tổng trấn Gia Ðịnh Thành Lê Văn Duyệt, khi đội quân cuối cùng của Xiêm La phải rời khỏi Battambang, từ đó cho đến đầu triều đại vua Thiệu Trị, năm 1847 với hai sắc dụ cuối cùng cáo chung một thời vang bóng: phong Nặc Ông Ðôn làm quốc vương Cao Miên và Mỹ Lâm quận chúa làm Cao Miên Quận Chúa.
NGUYÊN HƯƠNG

Chú thích:
  1. Yoshiharu Tsuboi: L'Empire Vietnamien face à la France et à la Chine. L'Harmattan. Paris 1987.
  2. Về các địa danh Chiêm Thành, kinh đô thay đổi nhiều lần, xin đọc thêm Le Royaume de Champa: Georges Maspéro. EFEO Paris 1928.
  3. Tuy rằng Ðại Việt và Chiêm Thành vẫn đi lại cống hiến Trung Hoa, sứ bộ hai nước có khi còn "chộ mệ" (gặp nhau) tại triều đình Trung Hoa, nhưng Ðại Việt vẫn coi mình là "thượng quốc" và Chiêm Thành là "phiên thuộc." Nổi tiếng giàu có về vàng bạc, ngọc ngà châu báu, lễ vật cống hiến của Chiêm Thành thường thường rất hậu hỉ, gồm có sản vật địa phương như ngà voi, sừng tê giác, giáng hương, kỳ nam, bạch đàn, nhục quế, long não... Voi và tê giác là hai (con) vật cống lễ không thể thiếu được. Lỡ thiếu, cả Trung Hoa lẫn Ðại Việt, thường "nhắc khéo" thuộc quốc, có khi trả lại không nhận!

    Nhiều lần liên tiếp, Chiêm Thành cống hiến Trung Hoa mấy con voi trắng (bạch tượng) và tê giác trắng rất quý hiếm; lâu ngày thành lệ như trường hợp vua Lê Thánh Tôn bắt Chiêm Thành phải cống một cặp bạch tượng.

    Tiếp sứ bộ Chiêm Thành hôm ấy, vua Lê Thánh Tôn truyền phán đại ý: "Là phiên quốc đối với Ðại Việt, Chiêm Thành phải làm đầy đủ bổn phận... lần này phải dâng thêm voi, tê giác và ngọc hỏa châu... Sứ thần Chiêm Thành tâu xin: "Tệ quốc lâu nay vẫn thần phục quý quốc, vâng theo thánh ý bệ hạ như con cái vâng lời cha mẹ. Nay bệ hạ truyền dâng thêm cống phẩm, hạ thần không thể tuân hành ngay được. Cúi xin bệ hạ ban lệnh cho sứ thần quý quốc đến tệ quốc bàn định..." (Chuyển ngữ đoạn này theo bản Pháp văn: Le Royaume du Champa. tr. 235 sđd).

    Sứ Chiêm về tâu lại, Chiêm vương Trà Toàn không chấp thuận. Trà Toàn trước đây thường cho người qua Trung Hoa kiện cáo về việc Ðại Việt gây hấn Chiêm Thành, tuy có lúc vẫn cho quân xâm phạm lãnh thổ Ðại Việt. Việc yêu sách cống phẩm trên chỉ là lý do bề mặt để dò xem phản ứng Chiêm Thành. Và đúng như vua Lê Thánh Tôn dự đoán; sau khi cho người cấp báo triều đình Trung Hoa, Trà Toàn ra tay trước bằng cuộc hành quân tấn công Thuận-Hóa như đã ghi trên.
  4. Ðể làm suy yếu thế lực Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tôn xé nhỏ phần đất mới chiếm được thành ba nước, mỗi nước một quốc vương riêng: Ðại Chiêm hay Chiêm Ðộng (thuộc phía bắc lãnh thổ Chiêm Thành, gọi là Amaravati, tỉnh Quảng Nam ngày nay) ranh giới kéo dài từ Nam Ngãi đến Chà Bàn (Bình Ðịnh); Hoa Anh ở phía Nam Chiêm Ðộng (có thể là vùng đất Phú Yên) và Nam Phan (hay Nam Bàn) ở phía tây Hoa Anh lan rộng đến vùng núi Trường Sơn, sau này là hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá, sách Ðại Nam Thực Lục thường nói đến.

    Nên biết qua, miền Bắc Chiêm Thành (Amavarati) gồm có kinh đô (một trong những kinh đô) Indrapura và cửa bể Ðại Chiêm, Sinhapura, trên sông Thu Bồn (sông Sinhapura như người Chiêm gọi). Phần đất miền Nam Chiêm Thành còn lại gồm có từ Kanthara (Khánh Hòa), Panduranga (Phan Rang) trở vào cho đến Bình Thuận (Vijaya, sử ta gọi là Phật Thệ).

    Trên thực tế lịch sử, rất khó định rõ vị trí "tam quốc" nói trên; việc chú thích gần-gần-đúng chỉ có mục đích để bạn đọc dễ theo dõi, trong khi Chiêm Thành lần lần mất hết đất đai kể từ đây.
  5. Nước Chiêm Thành không còn nữa, một số người Chiêm chạy sang hướng Tây miền Thượng Sơn sống lẫn lộn với các sắc dân thiểu số; một số chạy sang miền đông Cao Miên, sử ta sau này gọi là người Côn Man. Số người Chiêm còn lại quy tụ ở Phan Rang, Phan Thiết gọi là người Chàm, người Hồi, hay Lồi (Thành Lồi).

    Năm Minh Mạng thứ 20, nhà vua sắc dụ đổi tên thổ dân địa phương, từ nay gọi là Tân dân - dân mới - (sau này năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, bắt chước theo, cũng gọi đồng bào thiểu số là Việt Nam mới):

    "Nguyên Thuận Thành đã được phân thiết phủ huyện... thổ dân bây giờ ăn bận đều đã giống người kinh... mới được cải cách mà đã tiêm nhiễm khá nhiều phong hóa miền kinh, biết phục dịch công vụ, đã nhạy cảm theo phong hóa mới... Từ nay về sau, phải gọi họ là tân dân (dân Việt Nam mới). Mặt khác cũng phải nói cho họ biết phải tự xưng mình là tân dân, cho biết rõ cái ý nghĩa "nhất thị" (cùng dòng giống Việt Nam như những người Việt Nam khác).

    Theo G. Maspero (sđd), đầu thập niên 20 có độ chừng 60.000 người Chàm ở Cao Miên theo Hồi Giáo và ở Phan Rang, Phan Thiết trên dưới 30.000 người. Người Chàm theo Hồi Giáo ở miền Nam Trung Việt gọi là Chàm Bani, phiên âm theo tiếng Ả Rập, có nghĩa là "con cái" đấng Tiên Tri.
  6. Gọi Phù Nam-Chân Lạp (Chân Lạp-Cao Miên) để độc giả dễ theo dõi liên tục lịch sử nước láng giềng Cao Miên ngày nay.

    Chân Lạp, nguyên trước là nước Phù Nam (Fu Nan) một quốc gia hùng mạnh theo văn minh Ấn Ðộ, lãnh thổ rộng lớn bao gồm ngoài Cao Miên và Nam Việt ngày nay, còn có thêm Hạ Lào và một phần miền đông biên giới Xiêm La.

    Vào giữa thế kỷ thứ 6, người Chân Lạp (Kambuja, tổ tiên người Khmer sau này) nổi lên chiếm nước, lần lần thay thế địa vị Phù Nam làm bá chủ vùng tây nam Ấn Ðộ Chi Na; định đô ở Angkor. Sau ngày Jayawarman mất, nội bộ Chân Lạp chia rẽ vì tranh giành ngôi vua. Ðến đầu thế kỷ thứ 8, Chân Lạp chia thành hai nước: Lục Chân Lạp (Cambhupura) và Thủy Chân Lạp (Viadhapura, Nam Việt sau này). Một thế kỷ sau hợp nhất lại; nước Chân Lạp thống nhất mở đầu giai đoạn thịnh trị của đế quốc Khmer cho đến giữa thế kỷ 15.

    Kéo dài chiến tranh với Chiêm Thành trên một thế kỷ, tiếp đến đụng độ với Ðàng Trong, nội bộ xâu xé chia rẽ, lúc ngả theo Xiêm La, lúc theo về các chúa Nguyễn Ðàng Trong, đất nước Chân Lạp-Cao Miên biến thành bãi chiến trường hai nước Xiêm La và Ðại Việt Ðàng Trong. Từ quốc hiệu Phù Nam đến Chân Lạp đổi thành Cao Miên đầu thế kỷ 18, nước Cao Miên suy yếu dần cho đến khi trở thành thuộc quốc của Việt Nam vào cuối thế kỷ 18.
  7. Xem: Công Nương Ngọc Vạn. Lệ Vân. T.S.H Dallas. 1992.

    http://www.mevietnam.org/index-a.html

Nhãn: ,

5 Lý do đừng đến đảo Quan Lạn – Quảng Ninh

Tôi viết những dòng này trong lúc đang ở đảo Quan Lạn, ngày thứ tư, chúng tôi mới quyết định ở lại thêm một đêm nữa vào sáng nay, trước giờ khởi hành để đi về 2 tiếng đồng hồ, chẳng biết để làm gì, đơn giản là chúng tôi, ai cũng muốn vậy. Thật ra chuyến đi của tôi chỉ có 2 người, tôi và Anna – một cô bé người Pháp chỉ mới 16 tuổi nhưng đã 2 năm liên tục đến Việt Nam vào mùa hè, mùa hè này là lần thứ 2 tôi gặp cô ấy, nhưng giờ cô ấy không đi cùng gia đình, mà là 1 mình. Vì thế sự xuất hiện của tôi nghiễm nhiên trở thành vai trò của người hướng dẫn và trợ giúp. Trên con tàu từ Vân Đồn tới đảo Quan Lạn (thuộc tỉnh Quảng Ninh) chúng tôi nhập hội cùng một nhóm bạn trẻ Hà Nội, và chúng tôi bây giờ là một tập thể nhiều hơn 2, cụ thể là 11 người.
Trong khi 10 người còn lại đang ngồi nói chuyện với nhau sau khi ăn trưa, thì tôi lại muốn viết một cái gì đó trong chuyến đi này. Nếu muốn đi tới đảo Quan Lạn thì các bạn không nên đọc tiếp, vì không giống những lần trước, lần này tôi sẽ nêu một vài lý do để khuyên bạn đừng đến đảo Quan Lạn.

 1. Đảo Quan Lạn bình yên và hoang sơ lắm

5 Lý do đừng đến đảo Quan Lạn - Quảng Ninh
Đảo Quan Lạn nhìn từ một nhà nghỉ ở Bãi Sơn Hào
5 Lý do đừng đến đảo Quan Lạn - Quảng Ninh
Phương tiện di chuyển thông dụng trên đảo Quan Lạn: Tuk Tuk
Đảo Quan Lạn là một trong 5 xã đảo thuộc tuyến đảo Vân Hải, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Nói thêm 5 xã đảo này là: Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi vòng ra ngoài khơi ôm lấy rìa phía đông của vịnh Bái Tử Long. Các bạn xem hình có thể hình dung được vị trí của đảo Quan Lạn trên bản đồ. Từ cảng Cái Rồng ở thị trấn Vân Đồn, có 2 đường gạch sọc: một đi đến đảo Quan Lạn và 1 đi đến đảo Cô Tô.
Đảo Quan Lạn không giống như những hòn đảo nổi tiếng ở Phuket mà tôi từng đi. Không nhộn nhịp, tấp nập khách du lịch, các bãi tắm hầu như còn rất hoang sơ và chưa được khai phá hết. Hệ thống điện có nơi còn chưa được 24/24 mà phải dùng máy nổ. Các bãi biển còn giữ được nét hoang sơ, môi trường sinh thái vẫn chưa bị ô nhiễm vì khai thác du lịch quá mức. Cuộc sống của người dân trên đảo cũng hiền hoà. Tối đến thì cả đảo chìm trong âm thanh của côn trùng, gió, sóng biển và đâu đó vang lên tiếng máy nổ rù rù cả đêm. Nếu không muốn ra biển ngắm bầu trời sao lung linh vào những ngày trời trong vắt thì các bạn nên đi ngủ sớm nhé.

2.  Vịnh Bái Tử Long đẹp chả khác gì Vịnh Hạ Long

Để đến được đảo Quan Lạn có 2 cách, 150.000đ cho tàu cao tốc (45 phút) và 60.000đ cho tàu gỗ (gần 3 tiếng). Thường thì mọi người chọn tàu gỗ vì đường từ Vân Đồn tới đảo Quan Lạn đi qua Vịnh Bái Tử Long đẹp ngây ngất chả khác gì Vịnh Hạ Long. Chỉ có điều là nó không dừng lại để các bạn vào các hang động đá vôi, hay dừng ở các bãi tắm hoặc nhà bè cho các bạn thăm quan đâu. Vậy nên nếu là đi du lịch thì đi tàu gỗ sướng hơn, đi lâu để thưởng thức hết cái đẹp của khung cảnh nơi này.
Tàu gỗ như thế này tốn khoảng 60.000đ/người.
Tàu cao tốc thì thế này.

3.  Tới đảo Quan Lạn chỉ đi tắm biển thôi

Khắp đảo Quan Lạn có 3 bãi biển lớn, đều đẹp như nhau với bờ biển dài vài ba cây số; các dãy núi hình cánh cung ôm quanh tạo nên một bức tường thành ngăn sóng gió từ biển khơi; nước biển ấm nên có thể bơi đến khi nào chán thì thôi; bãi biển cát mịn và nước nông thoai thoải, xa xa trước mặt là những ngọn núi đá vôi từ Vịnh Bái Tử Long sừng sững hiện lên. Khi hoàng hôn buông xuống, khung cảnh mây, nước và núi tạo nên một màu sắc cực đẹp mà tưởng tượng như bạn đang đứng trước ngỏ cửa vào thiên đường. Có những lúc tôi đã đứng lặng, ngâm mình trong nước biển và tự thốt lên rằng: biển ở đây đẹp quá!
Từ bến cảng bạn có thể chọn cho mình 3 khu vực gần với 3 bãi biển mà bạn có thể thuê phòng để nghỉ ngơi.

Bãi Quan Lạn – đảo Quan Lạn

Gần bến cảng, gần khu trung tâm, chợ, nhộn nhịp nhà nghỉ và tập trung các dịch vụ dành cho khách du lịch. Nếu bạn thích đình chùa thì nên ở đây luôn vì khu vực này có đình Quan Lạn được xây dựng từ thế kỉ 18 và còn giữ được những nét chạm khắc tinh xảo từ xa xưa; chùa Quan Lạn thờ phật và bà chúa Liễu Hạnh; bên cạnh chùa là miếu, nghè Quan Lạn. Cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè này tạo nên một điểm nhấn đặc trưng cho cư dân ở đây. Nhưng với du khách, hấp dẫn hơn đó là bãi tắm Quan Lạn.
5 Lý do đừng đến đảo Quan Lạn - Quảng NinhBãi Quan Lạn nhìn từ cầu cảng
Cầu cảng Quan Lạn
Nhìn từ bến cảng Quan Lạn
5 Lý do đừng đến đảo Quan Lạn - Quảng Ninh

Bãi Sơn Hào – đảo Quan Lạn

Nằm ở giữa đảo, quyền khai thác bãi biển thuộc hoàn toàn thuộc về một công ty du lịch xây dựng khách sạn nhà hàng ở đây, vị trí này rất đẹp, đây cũng là bãi tắm đẹp nhất mà tôi đi trong khoảng thời gian này. Muốn tới bãi tắm này bạn phải mua vé 20.000đ/người nếu không nghỉ ở đây. Chúng tôi ở nhà nghỉ tư nhân ngay trước cổng đi vào bãi Sơn Hào, nên được miễn tiền vé.

Bãi Minh Châu – đảo Quan Lạn

Theo đánh giá của đa số người từng đến đây là bãi biển đẹp nhất ở đảo Quan Lạn, nằm về phía đầu còn lại của đảo. Bãi tắm không bị tư nhân hoá và ở xa nên khai thác du lịch không mạnh như bãi tắm Quan Lạn. Vậy nên xét về mật độ du lịch thì bãi tắm này thuộc tính trung bình cộng của hai bãi tắm bên trên.
Đường ra bãi Minh Châu
Biển Minh Châu – hình ảnh từ FB Trịnh Quang Linh – năm 2013
Biển Minh Châu – hình ảnh từ FB Trịnh Quang Linh – năm 2013

4.  Đảo Quan Lạn cái gì cũng mắc

Đúng rồi, ở đảo mà, cái gì cũng cần phải vận chuyển ra nên mắc. Mắc mà có xắt ra miếng không là do khả năng tài chính và mức độ hưởng thụ của các bạn. Cái này nói ngắn ngắn vậy thôi nhé! Tuy nhiên đi có mấy ngày, xài một tí tiền cũng xứng đáng với những gì mà bạn tận hưởng trên đảo Quan Lạn.

5.  Chẳng có gì ngoài ăn và tắm biển.

Tôi có thể tường thuật lại các ngày tôi ở đây cho các bạn nghe:
– Ngày đầu tiên: chúng tôi nhận phòng vào buổi chiều, sau đó đi tắm biển ở bãi Sơn Hào và về ăn tối.
– Ngày thứ hai: Sáng tắm biển bãi Sơn Hào, về đọc sách, uống trà, ăn trưa, chiều tắm biển bãi Sơn Hào, ăn tối, tối ra bãi biển. Riêng tôi thì tranh thủ được tí buổi sáng mượn xe máy chủ nhà nghỉ lên phía khu vực trung tâm thăm quan tí, nên mới phát hiện ra mấy ngôi chùa kể cho các bạn nghe.
– Ngày thứ ba: Sáng tắm biển bãi Sơn Hào, về đọc sách, uống trà, ăn trưa, chiều đi tắm biển ở bãi Minh Châu, ăn tối.
– Ngày thứ tư: Đáng lẽ là về sáng nay, nhưng cả hội lại rủ nhau ở lại. Và ngoài những việc mà chúng tôi thực hiện giống như ngày thứ hai, thì tôi có thêm một việc nữa là viết những dòng này.
Tất nhiên phần lớn thời gian không đi tắm biển thì ngoài đọc sách chúng tôi còn nói chuyện, ngồi nhìn nhau và tự nghĩ ra những trò quái dị để làm, miễn vui là được.
Ví dụ thế này: cắt tóc cho nhau.
À, đây là lần đầu tiên tôi hút cần, nhưng chẳng có cảm giác gì, tôi không thấy phê như mọi người vẫn bảo, chỉ thấy xung quanh ai cũng lờ đờ như mình, ngồi nhìn nhau và có cảm giác như là ai cũng đang tập trung vào một vấn đề gì đó.
Tóm lại là đừng đến đảo Quan Lạn… không là bạn sẽ bị ghiền đấy! Chống chỉ định với những trường hợp đi một mình và mắc bệnh tự kỉ.

https://billbalo.com/5-ly-do-dung-den-dao-quan-lan-quang-ninh/

Nhãn: ,