Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Kỉ niệm chiến thắng phát xít Đức: Bài hát về Tổ quốc xa xôi




Tác giả: Nguyễn Văn Minh
Nếu ai đã từng xem bộ phim truyền hình nhiều tập “MƯỜI BẢY KHOẢNH KHẮC MÙA XUÂN” “СЕМНАДЦАТЬ МГНОВЕНИЙ ВЕСНЫ" là một bộ phim truyền hình dài nhiều tập của Liên Xô. Phim được làm tại xưởng phim Gorky, do Tatiana Lioznova đạo diễn và dựa trên cuốn tiểu thuyết nhiều tập cùng tên của nhà văn Yulian Semyonov.(Юлиан Семёнов) Phim được chia làm 12 tập với mỗi tập có độ dài khoảng 70 phút và cả phim có thời lượng khoảng 840 phút. Trong bộ phim này sử dụng rất nhiều phim tư liệu thời sự tại chiến trường.


Bộ phim nói về cuộc đời (đã được hư cấu) của một điệp viên người Nga tên là Isaev hoạt động tại nước Đức Quốc Xã dưới tên Đức là Stirlitz (Штирлиц), do diễn viên Soviet Vyacheslav Tikhonov đóng. Nội dung phim tập trung vào hoạt động của Isaev trong mười bảy khoảnh khắc quan trọng được trải ra trong thời gian từ 12 tháng Hai tới 24 tháng Ba năm 1945, là những ngày cuối cùng trước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Các vai diễn chính khác do Leonid Bronevoy, Oleg Tabakov, Rostislav Plyatt và Vasily Lanovoy đảm nhận.
Các vai diễn chính khác do Leonid Bronevoy, Oleg Tabakov, Rostislav Plyatt và Vasily Lanovoy đảm nhận. Bộ phim trở nên quen thuộc khắp Liên Xô và rất nhiều câu nói trong phim cũng đã được nhiều người thuộc lòng và sử dụng trong đời thường. Trong bộ phim này có hai bài hát hay được nhiều người biết đến đó là bài : “ГДЕ ТО ДАЛЕКО - BÀI HÁT VỀ TỔ QUỐC XA XÔI” và bài “МГНОВЕНИЯ - NHỮNG KHOẢNH KHẮC”.
Bài hát “ГДЕ ТО ДАЛЕКО - BÀI HÁT VỀ TỔ QUỐC XA XÔI” do nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền viết lời Việt tôi xin đăng tải cho các bạn thích bộ phim này có dịp nhớ lại tháng ngày xưa mê say theo dõi trên tivi, năm nào cũng xem mà không hề biết chán. Xem lại videoclip khi Stirlitz gặp vợ tại quán cà phê chắc ít ai cầm lòng cho được. Hầu như tất cả những bài hát trong bộ phim này đều do ca sĩ Iosif Kobzon trình bày rất thành công.




ГДЕ ТО ДАЛЕКО - BÀI HÁT VỀ TỔ QUỐC XA XÔI “ИОСИФ КОБЗОН”
Музыка: М. Таривердиев Слова: Р. Рождественский

Я прошу: хоть ненадолго,
Грусть моя, ты покинь меня,
Облаком, сизым облаком
Ты полети к родному дому,
Отсюда к родному дому.

Берег мой, покажись вдали,
Краешком, тонкой линией,
Берег мой, берег ласковый,
Ах до тебя, родной, доплыть бы,
Доплыть бы хотя б когда-нибудь.

Где-то далеко, где-то далеко
Идут грибные дожди.
Прямо у реки в маленьком саду
Созрели вишни, наклонясь до земли.
Где-то далеко в памяти моей
Сейчас, как в детстве тепло,
Хоть память укрыта такими большими снегами.

Ты гроза, напои меня,
Допьяна, да не досмерти.
Вот опять, как в последний раз,
Я все гляжу куда-то в небо,
Как будто ищу ответа...
Я прошу: хоть ненадолго,
Грусть моя, ты покинь меня,
Облаком, сизым облаком
Ты полети к родному дому,
Отсюда к родному дому.


ГДЕ ТО ДАЛЕКО - BÀI HÁT VỀ TỔ QUỐC XA XÔI
Lời Việt: Diệp Minh Tuyền

Ước gì được chút giây phút nhẹ nhàng
Nỗi buồn lòng lánh xa cõi lòng mình.
Ước gì được giống mây xám bềnh bồng
Từ nơi đây sẽ lướt bay về phương trời,
Về tới nơi ngôi nhà ở chốn thôn quê.

Bến bờ nào chỉ ta với bạn hiền,
Bến bờ nào chốn xa tít mịt mù.
Bến bờ nào mến yêu của lòng mình,
Dù trong giây lát lướt bay mau quay về,
Bờ bến xa vời vơi lòng thỏa mong chờ.

Ở nơi xa xôi ấy,
Ở nơi xa xôi ấy,
Chắc bây giờ hẳn đang trời mưa.
Lạnh bờ sông xanh thắm,
Vườn cây xưa yêu dấu
Trái anh đào chín say,
Bóng ngã bên bờ sông.

Ở nơi xa xôi ấy,
Kỷ niệm xưa yêu dấu,
Vẫn đang còn cháy trong lòng ta,
Như lửa thiêng, dù cách xa,
Dù tháng năm, dù giá băng chồng chất cao.

Ước gì được chút giây phút nhẹ nhàng
Nỗi buồn lòng lánh xa cõi lòng mình.
Ước gì được giống mây xám bềnh bồng
Từ nơi đây sẽ lướt bay về phương trời,
Về tới nơi ngôi nhà ở chốn thôn quê.

Bến bờ nào chỉ ta với bạn hiền,
Bến bờ nào chốn xa tít mịt mù.
Bến bờ nào mến yêu của lòng mình,
Dù trong giây lát lướt bay mau quay về,
Bờ bến xa vời vơi lòng thỏa mong chờ...

(Nguồnhttp://minhhankiev.blogspot.com)

Nhãn: , ,

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

Bài thi trạng nguyên: Kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục

Kỳ thi Đình năm 1472 có một bài thi được xem là kiệt tác, không chỉ giúp người làm bài thi này đỗ trạng nguyên, mà còn giúp nhà vua vận dụng trị quốc, chống tham nhũng vô cùng hiệu quả, khiến nạn tham nhũng đang hoành hoành từ trên xuống dưới bị đẩy lùi, những quan lại vốn có thói quen nịnh bợ cũng không còn đất dụng võ nữa.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
(Tranh minh họa qua vietnamgiapha.com)

Thời kỳ cực thịnh về giáo dục

Khi vua Lê Thánh Tông mới lên ngôi đã nhận được rất nhiều lời ca thán từ dân chúng về bè lũ quan lại như sâu mọt đục khoét của dân. Rất nhiều quan lại được cất nhắc nhờ nịnh bợ và quà cáp hối lộ, những kẻ nịnh thần thăng quan nhờ quà cáp hối lộ chắc chắn là vì mình chứ chẳng vì dân, đó là nguyên nhân chính khiến lòng dân oán thán. Vì vậy, nhà vua nhìn nhận rằng nạn tham nhũng là nguyên nhân lớn nhất cần phải tiêu diệt.
Trong buổi thiết triều, nhà vua nhấn mạnh vào việc chống tham nhũng. Vua cũng rất chú ý đến giáo dục để có thêm những hiền tài mới nhằm phục vụ cho giang sơn xã tắc. Chính vì chú trọng đến giáo dục nên thời vua Lê Thánh Tông được xem là giai đoạn cực thịnh về giáo dục.
Nữ trạng nguyên duy nhất của nước Việt
Cảnh trường thi thời xưa. (Tranh qua nghiencuulichsu.com)
Theo quy định vào thời ấy, các sĩ tử đỗ cao trong kỳ thi Hương mới được chọn vào thi Hội, vượt qua thi Hội mới được chọn vào thi Đình. Kỳ thi Đình rất đặc biệt, được tổ chức ngay trong sân điện của vua nên được gọi là thi Đình. Trong khi thi Hương và thi Hội thì thí sinh phải qua 4 kỳ thi, còn thi Đình chỉ làm một bài văn sách nên nó còn được gọi là “Đình đối sách văn”. Bài văn sách thi Đình do vua trực tiếp ra đề, phê bài, và xếp hạng.
Các sĩ tử vào đến thi Đình thì đều được xem là thông sử học và văn học. Kỳ thi Đình đòi hỏi thí sinh còn phải hiểu biết tình hình giang sơn xã tắc, vận dụng trí tuệ của mình nhằm lý giải đồng thời đề ra kế sách nhằm giải quyết những vấn nạn mà giang sơn gặp phải.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Trường thi thời xưa. (Ảnh qua lichsuvn.net)
Bài văn sách của sĩ tử Vũ Kiệt năm 1472 được xem là kiệt tác và giúp Vũ Kiệt đỗ trạng nguyên. Có lẽ đây là một bài văn mà hậu thế đến ngày nay vẫn cần phải học hỏi.

Địa linh sinh nhân kiệt

Theo sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” và “Đại Việt sử ký toàn thư” thì trạng nguyên Vũ Kiệt sinh năm 1452 ở xã Yên Việt, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay thuộc thôn Cửu yên, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
Vì làng quê ông có tên nôm là Vít nên dân gian vẫn gọi ông là Trạng Vít. Người dân nơi đây vẫn còn nhớ câu ca từ xưa:
Làng Vít có chợ, có sông
Có dinh quan Thượng, có đồng cờ tiên.
Trước làng Vít có hai con sông giao nhau: con sông từ chùa Dâu chảy về hợp lưu với con sông Cổ (sông Tào Khê) tạo thành thế “Lưỡng thủy giao tiền” (hai con sông giao nhau ở trước làng). Ngày nay trước cửa làng vẫn còn dấu tích gò Thần Đồng và gò Bút, tạo nên vùng đất địa linh sinh nhân kiệt.
(Tranh qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Tập 18: Lý Thường Kiệt)
Dùi mài kinh sử. (Tranh minh họa qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Trạng nguyên Vũ Kiệt được sinh ra và lớn lên trên vùng đất này. Thuở nhỏ ông đã nổi tiếng là thông minh và sáng dạ. Năm 1472, lúc 20 tuổi, Vũ Kiệt đã vượt qua thi Hương và thi Hội, được vào kỳ thi cuối cùng là thi Đình tại sân điện, diện kiến đức vua.
Tại kỳ thi Đình này, vua Lê Thánh Tông ra đề thi hỏi về sách lược “Đế Vương trị quốc”…

Phép chống tham nhũng

Vua Lê hỏi rằng:
Trẫm lo lắng cho cái thói tham lam làm đổi thay phong tục, nên đặt chức đình úy để xét tra những điều gian dối của bọn quan lại, thưởng người liêm khiết để khuyến khích làm việc tốt. Thế nhưng, người có chức vị vẫn không trong sạch, gió thổi bóng theo.
Bọn quan lại nhỏ tự làm những điều ô nhục, ngày càng tràn lan. Dân càng nghèo mà đóng góp ngày càng lắm, pháp luật càng nghiêm mà kẻ gian ngày càng nhiều. Việc quân cơ, việc chính sự biến đổi rối rắm.
Của cải xuất kho lại rơi vào tay bọn tham nhũng, thật chẳng có lúc nào mà quá như lúc này. Hãy nêu lên cái nguyên nhân sinh ra những tệ hại ấy và bằng cách nào để sửa đổi và có tin là sửa đổi được không?
Vũ Kiệt trả lời rằng: (trích lược)
Thần cho rằng câu hỏi của bệ hạ là muốn để tâm làm trong sạch mọi dòng vẩn đục và mong muốn các quan noi theo đó để làm chuẩn mực.
Thần nghe lời giải thích trong kinh Xuân Thu “sự thành bại của quốc gia là xuất phát từ sự trung thực hay gian tà của các quan…”
Quan lại thất đức, việc ăn hối lộ được đưa ra ánh sáng thì thói tham lam không thể phát triển mãi được.
Con người sinh ra không thể không có sự ham muốn, nếu con người không làm chủ được sự ham muốn ấy thì sẽ sinh ra rối loạn…
Vả lại gần đây, con người sống lâu trong thời bình, nên có phần sơ suất về màng lưới ngăn cấm trong đời sống hàng ngày.
Trong khi làm việc công thì thường dùng quà cáp, tết nhất, dùng của đút lót làm lễ vật hàng ngày, giày dép, quần áo diêm dúa, tiêu pha hoang phí, tệ tham nhũng tích tụ thành thói quen, điềm nhiên cho đó là việc thường.
Thần thấy tuy bệ hạ nghiêm khắc trong việc tra xét kẻ gian, tín cẩn biểu dương người tốt nhưng chưa đưa ra bộ mặt của đám tiểu nhân được…
Thần thấy trong Kinh lễ có câu “đại thần giữ phép, tiểu thần sẽ liêm chính” là có ý nói những việc làm của quan cấp cao thực để cho cấp dưới xem xét và noi theo…
Lấy lý mà nói thì bọn tiểu lại, trộm cướp còn tự thay đổi trước sự giáo hóa của quan lệnh trong ấp, huống hồ lại đối với các bậc quan trên…
Nhưng phép luật ngày nay thì người làm quan lớn hoặc ban ơn để tỏ rằng mình là người hiểu biết, hoặc rêu rao cái danh để cho cấp dưới cầu cạnh, sai bảo người khác, ban bố mệnh lệnh đều trái với lẽ phải, khinh trọng thiên lệch. Khi tìm được chỗ hở thì gây ra tệ lậu bán buôn, hoặc không giữ chắc của công, hoặc lấy của công để vun vén cho mình.
tham nhũng
Vua Lê Thánh Tông trọng dụng trạng nguyên Vũ Kiệt. (Tranh minh họa: Trí Thức VN)
Sau khi phân tích Vũ Kiệt đưa ra hướng khắc phục: (trích lược)
Thần mong bệ hạ hãy tuyển chọn những người công minh trong sạch và ngay thẳng, lấy danh vị giao cho họ trọng trách…
Ra lệnh cho quan ngự sử kiểm soát, khích lệ biểu dương để thấy được những quan liêm khiết và nêu từng việc để biết được sự liêm khiết của họ. Ông quan nào thuộc hạng ô lại và cũng lấy việc ấy để nêu cái ô nhục của họ, để điều trần tâu lên chính xác rõ ràng. Nếu quả thực họ là người liêm khiết thì ân thưởng ưu đãi và quan trưởng cũng được ban thưởng. Nếu quả thực họ là kẻ tham ô thì hình phạt không tha thứ và trưởng quan cũng tùy theo đó mà xử phạt. Làm như vậy, con người sẽ tốt lên, thói tham sẽ ngăn chặn được.
Nếu như các bậc trưởng quan chẳng phải là người tốt mà là muốn bọn quan lại cấp dưới phải sống trong sạch, thế chẳng khác nào nước đầu nguồn đục mà mong cho dòng trong!

Kế sách chấn hưng giáo dục

Nhà Vua hỏi rằng:
Sách xưa có câu: “Thầy nghiêm thì việc học đạo mới được tôn kính”. Nhưng hiện tại nho sinh lại cảm thấy xấu hổ khi đến học thầy, cốt làm những chuyện họa may hoặc qua tuần, qua tháng lại đổi thầy. Một nho sinh mà chưa bao giờ biết gò mình trong việc tu chỉnh, khi đạt được danh vọng ở triều đình thì ít tuân theo lễ nghĩa. Đạo làm thầy bị bỏ rơi sao mà lâu thế, làm thế nào để cứu vãn được…
Vũ Kiệt đã làm bài rằng: (trích lược)
Thần nghe: Cái học của người xưa nhất thiết phải có thầy, người thầy làm nhiệm vụ truyền đạo, thụ nghiệp nêu lên những chỗ nhầm lẫn, giải thích những điều tôn nghi trong sách vở. Các ngành, các nghề, ngay cả những nghề vụn vặt cũng không thể không có thầy được, huống hồ người theo học đạo Nho?…
Là kẻ sĩ phải thấy rằng mình được vinh hạnh, càng chăm lo việc thực học. Trong lúc chưa thành đạt thì sống theo đạo lý thông thường để chờ thời gặp mệnh. Không để mất phẩm chất riêng của mình. Lúc đã được tin dùng thì phải giữ đúng danh vị và làm việc thực sự, không thể để mất cái điều mà mình hằng mong muốn, như thế mới có thể được.
Ông cũng nêu ra thực tại trong nền giáo dục: (trích lược)
Nhưng cũng có khá nhiều người làm thầy, tư chất kém cỏi, văn vẻ vụng về. Cái mà người học trò cần có là sự uyên bác nhưng người thầy lại có kẻ nông xoàng, tài cán thô thiển. Đạo làm thầy không vững như thế thì còn lạ gì khi thấy sĩ tử xấu hổ việc đi học?…
Tâm thật đã mất trước khi ra làm quan rồi, thì sau khi ra làm quan còn tìm sao được tiết tháo và phong độ của họ…
Từ đó Vũ Kiệt nêu ra phương hướng: (trích lược)
Thần mong bệ hạ: Đạo làm thầy phải được tuyển chọn kỹ càng. Việc nuôi dạy sĩ tử phải được nghiêm nghị đúng hướng…
Tìm nhân tài trước hết phải chú ý đến mặt đức hạnh, phế truất kẻ phù hoa…
Nếu như dùng lời gian dối để trau truốt thì dứt khoát không dùng. Người dám nói thẳng… thì có thể thu nhận.
Theo sách “Văn hiến Kinh Bắc” thì bài “Văn sách thi Đình” của Vũ Kiệt được triều đình coi là kiệt tác nhằm trị quốc, an dân. Bài thi này cũng là chuẩn mực cho những đời sĩ tử sau này.

Giang sơn toàn thịnh

Vua Lê Thánh Tông tham khảo phép trị quốc này của Vũ Kiệt nhằm bổ sung cho bộ luật Hồng Đức, tăng thêm sức mạnh chống tham nhũng cho bộ luật này. Việc chống tham nhũng được tiến hành từ các quan to nhất đầu triều xuống đến địa phương.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Thông báo sắc lệnh của vua. (Tranh minh họa qua kienthuc.net.vn)
Đồng thời qua các năm vua Lê Thánh Tông cũng ban các sắc chỉ, cụ thể như sau:
  • Năm 1475, định lệnh cấm vơ vét xoay tiền trong các việc xây dựng sửa chữa, kẻ nào mượn cớ và vơ vét xoay tiền thì trị tội như luật xoay tiền.
  • Năm 1478, trong sắc chỉ cho các địa phương xét quan lại trong địa hạt, người nào tham ô lười biếng thì tâu lên để định việc giáng chức.
  • Năm 1487, xét quan lại thấy tham nhũng thì bãi chức sung quân ở Quảng Nam.
  • Năm 1483, trong sắc chỉ ân xá của nhà vua những kẻ tham nhũng xếp cùng tội đại nghịch không được hưởng khoan hồng của nhà vua.
Như vậy, vua Lê Thánh Tông đã coi nạn quan tham ngang hàng với tội đại nghịch, những tội làm tổn hại đến nền móng nhà nước.
tham nhũng
Trừng phạt tham quan. (Tranh minh họa qua kholichsuvietnam.blogspot.com)
Chủ trương chống tham nhũng, chỉ dùng bậc hiền tài, loại trừ kẻ xu nịnh được thực hiện từ các quan to nhất đầu triều xuống dưới, khiến các quan chức vốn chỉ lo tiến thân bằng nịnh bợ không còn đất dụng võ nữa, nạn tham nhũng đang tàn phá đát nước bị đẩy lùi và dẹp bỏ.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Vua xử lý công việc triều đình. (Tranh minh họa qua kienthuc.net.vn)
Lịch sử cho thấy thời kỳ vua Lê Thánh Tông là thời kỳ toàn thịnh của Đại Việt, đất nước phát triển rực rỡ về mọi phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và quân sự.
Giang sơn hùng mạnh thì không chỉ lân bang không dám ngó ngàng đến, mà lãnh thổ bờ cõi còn được mở rộng khi vua Lê Thánh Tông thực hiện các cuộc tiến quân về phía Nam và phía Tây, chinh phục Chiêm Thành, Ai Lao và Bồn Man.
Những thành tựu trị quốc, chống tham nhũng kiệt xuất đã đưa Đại Việt trở thành quốc gia hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.
Là hiền tài của đất Việt, tên tuổi của Vũ Kiệt còn được lưu lại trên Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội hay Văn Miếu ở Bắc Ninh. Tài năng cùng phép trị quốc của ông được các hậu thế nhiều đời sau này truyền tụng.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Trạng nguyên vinh quy bái tổ. (Tranh minh họa qua newvietart.com)
Thời nay, nhiều người cho rằng xã hội và tư tưởng xưa kia là “lạc hậu”, gán cho chúng cái mũ “phong kiến”, khiến những tinh hoa trong văn hóa truyền thống bị bài xích. Trong khi đó, thực trạng tham nhũng lại tràn lan, và nền giáo dục cũng không có một hướng đi đúng đắn cho vấn đề đạo đức. Thậm chí việc bỏ tiền lo lót cho quan lại, hay việc biếu xén thầy cô để con có thành tích học tập cao lại được xem như một điều “tất nhiên”, “rất đỗi bình thường”.
Nếu như áp dụng phép trị quốc của vua Lê Thánh Tông và của trạng nguyên Vũ Kiệt, thì hẳn là nhiều quốc nạn sẽ được dẹp bỏ.
Trần Hưng
https://trithucvn.net/van-hoa/bai-thi-cua-trang-nguyen-dat-viet-tro-thanh-kiet-tac-tri-quoc-chong-tham-nhung-chan-hung-giao-duc.html

Nhãn:

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

Bài thi trạng nguyên: Kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục

Kỳ thi Đình năm 1472 có một bài thi được xem là kiệt tác, không chỉ giúp người làm bài thi này đỗ trạng nguyên, mà còn giúp nhà vua vận dụng trị quốc, chống tham nhũng vô cùng hiệu quả, khiến nạn tham nhũng đang hoành hoành từ trên xuống dưới bị đẩy lùi, những quan lại vốn có thói quen nịnh bợ cũng không còn đất dụng võ nữa.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
(Tranh minh họa qua vietnamgiapha.com)

Thời kỳ cực thịnh về giáo dục

Khi vua Lê Thánh Tông mới lên ngôi đã nhận được rất nhiều lời ca thán từ dân chúng về bè lũ quan lại như sâu mọt đục khoét của dân. Rất nhiều quan lại được cất nhắc nhờ nịnh bợ và quà cáp hối lộ, những kẻ nịnh thần thăng quan nhờ quà cáp hối lộ chắc chắn là vì mình chứ chẳng vì dân, đó là nguyên nhân chính khiến lòng dân oán thán. Vì vậy, nhà vua nhìn nhận rằng nạn tham nhũng là nguyên nhân lớn nhất cần phải tiêu diệt.
Trong buổi thiết triều, nhà vua nhấn mạnh vào việc chống tham nhũng. Vua cũng rất chú ý đến giáo dục để có thêm những hiền tài mới nhằm phục vụ cho giang sơn xã tắc. Chính vì chú trọng đến giáo dục nên thời vua Lê Thánh Tông được xem là giai đoạn cực thịnh về giáo dục.
Nữ trạng nguyên duy nhất của nước Việt
Cảnh trường thi thời xưa. (Tranh qua nghiencuulichsu.com)
Theo quy định vào thời ấy, các sĩ tử đỗ cao trong kỳ thi Hương mới được chọn vào thi Hội, vượt qua thi Hội mới được chọn vào thi Đình. Kỳ thi Đình rất đặc biệt, được tổ chức ngay trong sân điện của vua nên được gọi là thi Đình. Trong khi thi Hương và thi Hội thì thí sinh phải qua 4 kỳ thi, còn thi Đình chỉ làm một bài văn sách nên nó còn được gọi là “Đình đối sách văn”. Bài văn sách thi Đình do vua trực tiếp ra đề, phê bài, và xếp hạng.
Các sĩ tử vào đến thi Đình thì đều được xem là thông sử học và văn học. Kỳ thi Đình đòi hỏi thí sinh còn phải hiểu biết tình hình giang sơn xã tắc, vận dụng trí tuệ của mình nhằm lý giải đồng thời đề ra kế sách nhằm giải quyết những vấn nạn mà giang sơn gặp phải.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Trường thi thời xưa. (Ảnh qua lichsuvn.net)
Bài văn sách của sĩ tử Vũ Kiệt năm 1472 được xem là kiệt tác và giúp Vũ Kiệt đỗ trạng nguyên. Có lẽ đây là một bài văn mà hậu thế đến ngày nay vẫn cần phải học hỏi.

Địa linh sinh nhân kiệt

Theo sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” và “Đại Việt sử ký toàn thư” thì trạng nguyên Vũ Kiệt sinh năm 1452 ở xã Yên Việt, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay thuộc thôn Cửu yên, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
Vì làng quê ông có tên nôm là Vít nên dân gian vẫn gọi ông là Trạng Vít. Người dân nơi đây vẫn còn nhớ câu ca từ xưa:
Làng Vít có chợ, có sông
Có dinh quan Thượng, có đồng cờ tiên.
Trước làng Vít có hai con sông giao nhau: con sông từ chùa Dâu chảy về hợp lưu với con sông Cổ (sông Tào Khê) tạo thành thế “Lưỡng thủy giao tiền” (hai con sông giao nhau ở trước làng). Ngày nay trước cửa làng vẫn còn dấu tích gò Thần Đồng và gò Bút, tạo nên vùng đất địa linh sinh nhân kiệt.
(Tranh qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Tập 18: Lý Thường Kiệt)
Dùi mài kinh sử. (Tranh minh họa qua Ybook.vn, sách “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Trạng nguyên Vũ Kiệt được sinh ra và lớn lên trên vùng đất này. Thuở nhỏ ông đã nổi tiếng là thông minh và sáng dạ. Năm 1472, lúc 20 tuổi, Vũ Kiệt đã vượt qua thi Hương và thi Hội, được vào kỳ thi cuối cùng là thi Đình tại sân điện, diện kiến đức vua.
Tại kỳ thi Đình này, vua Lê Thánh Tông ra đề thi hỏi về sách lược “Đế Vương trị quốc”…

Phép chống tham nhũng

Vua Lê hỏi rằng:
Trẫm lo lắng cho cái thói tham lam làm đổi thay phong tục, nên đặt chức đình úy để xét tra những điều gian dối của bọn quan lại, thưởng người liêm khiết để khuyến khích làm việc tốt. Thế nhưng, người có chức vị vẫn không trong sạch, gió thổi bóng theo.
Bọn quan lại nhỏ tự làm những điều ô nhục, ngày càng tràn lan. Dân càng nghèo mà đóng góp ngày càng lắm, pháp luật càng nghiêm mà kẻ gian ngày càng nhiều. Việc quân cơ, việc chính sự biến đổi rối rắm.
Của cải xuất kho lại rơi vào tay bọn tham nhũng, thật chẳng có lúc nào mà quá như lúc này. Hãy nêu lên cái nguyên nhân sinh ra những tệ hại ấy và bằng cách nào để sửa đổi và có tin là sửa đổi được không?
Vũ Kiệt trả lời rằng: (trích lược)
Thần cho rằng câu hỏi của bệ hạ là muốn để tâm làm trong sạch mọi dòng vẩn đục và mong muốn các quan noi theo đó để làm chuẩn mực.
Thần nghe lời giải thích trong kinh Xuân Thu “sự thành bại của quốc gia là xuất phát từ sự trung thực hay gian tà của các quan…”
Quan lại thất đức, việc ăn hối lộ được đưa ra ánh sáng thì thói tham lam không thể phát triển mãi được.
Con người sinh ra không thể không có sự ham muốn, nếu con người không làm chủ được sự ham muốn ấy thì sẽ sinh ra rối loạn…
Vả lại gần đây, con người sống lâu trong thời bình, nên có phần sơ suất về màng lưới ngăn cấm trong đời sống hàng ngày.
Trong khi làm việc công thì thường dùng quà cáp, tết nhất, dùng của đút lót làm lễ vật hàng ngày, giày dép, quần áo diêm dúa, tiêu pha hoang phí, tệ tham nhũng tích tụ thành thói quen, điềm nhiên cho đó là việc thường.
Thần thấy tuy bệ hạ nghiêm khắc trong việc tra xét kẻ gian, tín cẩn biểu dương người tốt nhưng chưa đưa ra bộ mặt của đám tiểu nhân được…
Thần thấy trong Kinh lễ có câu “đại thần giữ phép, tiểu thần sẽ liêm chính” là có ý nói những việc làm của quan cấp cao thực để cho cấp dưới xem xét và noi theo…
Lấy lý mà nói thì bọn tiểu lại, trộm cướp còn tự thay đổi trước sự giáo hóa của quan lệnh trong ấp, huống hồ lại đối với các bậc quan trên…
Nhưng phép luật ngày nay thì người làm quan lớn hoặc ban ơn để tỏ rằng mình là người hiểu biết, hoặc rêu rao cái danh để cho cấp dưới cầu cạnh, sai bảo người khác, ban bố mệnh lệnh đều trái với lẽ phải, khinh trọng thiên lệch. Khi tìm được chỗ hở thì gây ra tệ lậu bán buôn, hoặc không giữ chắc của công, hoặc lấy của công để vun vén cho mình.
tham nhũng
Vua Lê Thánh Tông trọng dụng trạng nguyên Vũ Kiệt. (Tranh minh họa: Trí Thức VN)
Sau khi phân tích Vũ Kiệt đưa ra hướng khắc phục: (trích lược)
Thần mong bệ hạ hãy tuyển chọn những người công minh trong sạch và ngay thẳng, lấy danh vị giao cho họ trọng trách…
Ra lệnh cho quan ngự sử kiểm soát, khích lệ biểu dương để thấy được những quan liêm khiết và nêu từng việc để biết được sự liêm khiết của họ. Ông quan nào thuộc hạng ô lại và cũng lấy việc ấy để nêu cái ô nhục của họ, để điều trần tâu lên chính xác rõ ràng. Nếu quả thực họ là người liêm khiết thì ân thưởng ưu đãi và quan trưởng cũng được ban thưởng. Nếu quả thực họ là kẻ tham ô thì hình phạt không tha thứ và trưởng quan cũng tùy theo đó mà xử phạt. Làm như vậy, con người sẽ tốt lên, thói tham sẽ ngăn chặn được.
Nếu như các bậc trưởng quan chẳng phải là người tốt mà là muốn bọn quan lại cấp dưới phải sống trong sạch, thế chẳng khác nào nước đầu nguồn đục mà mong cho dòng trong!

Kế sách chấn hưng giáo dục

Nhà Vua hỏi rằng:
Sách xưa có câu: “Thầy nghiêm thì việc học đạo mới được tôn kính”. Nhưng hiện tại nho sinh lại cảm thấy xấu hổ khi đến học thầy, cốt làm những chuyện họa may hoặc qua tuần, qua tháng lại đổi thầy. Một nho sinh mà chưa bao giờ biết gò mình trong việc tu chỉnh, khi đạt được danh vọng ở triều đình thì ít tuân theo lễ nghĩa. Đạo làm thầy bị bỏ rơi sao mà lâu thế, làm thế nào để cứu vãn được…
Vũ Kiệt đã làm bài rằng: (trích lược)
Thần nghe: Cái học của người xưa nhất thiết phải có thầy, người thầy làm nhiệm vụ truyền đạo, thụ nghiệp nêu lên những chỗ nhầm lẫn, giải thích những điều tôn nghi trong sách vở. Các ngành, các nghề, ngay cả những nghề vụn vặt cũng không thể không có thầy được, huống hồ người theo học đạo Nho?…
Là kẻ sĩ phải thấy rằng mình được vinh hạnh, càng chăm lo việc thực học. Trong lúc chưa thành đạt thì sống theo đạo lý thông thường để chờ thời gặp mệnh. Không để mất phẩm chất riêng của mình. Lúc đã được tin dùng thì phải giữ đúng danh vị và làm việc thực sự, không thể để mất cái điều mà mình hằng mong muốn, như thế mới có thể được.
Ông cũng nêu ra thực tại trong nền giáo dục: (trích lược)
Nhưng cũng có khá nhiều người làm thầy, tư chất kém cỏi, văn vẻ vụng về. Cái mà người học trò cần có là sự uyên bác nhưng người thầy lại có kẻ nông xoàng, tài cán thô thiển. Đạo làm thầy không vững như thế thì còn lạ gì khi thấy sĩ tử xấu hổ việc đi học?…
Tâm thật đã mất trước khi ra làm quan rồi, thì sau khi ra làm quan còn tìm sao được tiết tháo và phong độ của họ…
Từ đó Vũ Kiệt nêu ra phương hướng: (trích lược)
Thần mong bệ hạ: Đạo làm thầy phải được tuyển chọn kỹ càng. Việc nuôi dạy sĩ tử phải được nghiêm nghị đúng hướng…
Tìm nhân tài trước hết phải chú ý đến mặt đức hạnh, phế truất kẻ phù hoa…
Nếu như dùng lời gian dối để trau truốt thì dứt khoát không dùng. Người dám nói thẳng… thì có thể thu nhận.
Theo sách “Văn hiến Kinh Bắc” thì bài “Văn sách thi Đình” của Vũ Kiệt được triều đình coi là kiệt tác nhằm trị quốc, an dân. Bài thi này cũng là chuẩn mực cho những đời sĩ tử sau này.

Giang sơn toàn thịnh

Vua Lê Thánh Tông tham khảo phép trị quốc này của Vũ Kiệt nhằm bổ sung cho bộ luật Hồng Đức, tăng thêm sức mạnh chống tham nhũng cho bộ luật này. Việc chống tham nhũng được tiến hành từ các quan to nhất đầu triều xuống đến địa phương.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Thông báo sắc lệnh của vua. (Tranh minh họa qua kienthuc.net.vn)
Đồng thời qua các năm vua Lê Thánh Tông cũng ban các sắc chỉ, cụ thể như sau:
  • Năm 1475, định lệnh cấm vơ vét xoay tiền trong các việc xây dựng sửa chữa, kẻ nào mượn cớ và vơ vét xoay tiền thì trị tội như luật xoay tiền.
  • Năm 1478, trong sắc chỉ cho các địa phương xét quan lại trong địa hạt, người nào tham ô lười biếng thì tâu lên để định việc giáng chức.
  • Năm 1487, xét quan lại thấy tham nhũng thì bãi chức sung quân ở Quảng Nam.
  • Năm 1483, trong sắc chỉ ân xá của nhà vua những kẻ tham nhũng xếp cùng tội đại nghịch không được hưởng khoan hồng của nhà vua.
Như vậy, vua Lê Thánh Tông đã coi nạn quan tham ngang hàng với tội đại nghịch, những tội làm tổn hại đến nền móng nhà nước.
tham nhũng
Trừng phạt tham quan. (Tranh minh họa qua kholichsuvietnam.blogspot.com)
Chủ trương chống tham nhũng, chỉ dùng bậc hiền tài, loại trừ kẻ xu nịnh được thực hiện từ các quan to nhất đầu triều xuống dưới, khiến các quan chức vốn chỉ lo tiến thân bằng nịnh bợ không còn đất dụng võ nữa, nạn tham nhũng đang tàn phá đát nước bị đẩy lùi và dẹp bỏ.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Vua xử lý công việc triều đình. (Tranh minh họa qua kienthuc.net.vn)
Lịch sử cho thấy thời kỳ vua Lê Thánh Tông là thời kỳ toàn thịnh của Đại Việt, đất nước phát triển rực rỡ về mọi phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và quân sự.
Giang sơn hùng mạnh thì không chỉ lân bang không dám ngó ngàng đến, mà lãnh thổ bờ cõi còn được mở rộng khi vua Lê Thánh Tông thực hiện các cuộc tiến quân về phía Nam và phía Tây, chinh phục Chiêm Thành, Ai Lao và Bồn Man.
Những thành tựu trị quốc, chống tham nhũng kiệt xuất đã đưa Đại Việt trở thành quốc gia hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.
Là hiền tài của đất Việt, tên tuổi của Vũ Kiệt còn được lưu lại trên Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội hay Văn Miếu ở Bắc Ninh. Tài năng cùng phép trị quốc của ông được các hậu thế nhiều đời sau này truyền tụng.
Bài thi của trạng nguyên đất Việt trở thành kiệt tác trị quốc, chống tham nhũng, chấn hưng giáo dục
Trạng nguyên vinh quy bái tổ. (Tranh minh họa qua newvietart.com)
Thời nay, nhiều người cho rằng xã hội và tư tưởng xưa kia là “lạc hậu”, gán cho chúng cái mũ “phong kiến”, khiến những tinh hoa trong văn hóa truyền thống bị bài xích. Trong khi đó, thực trạng tham nhũng lại tràn lan, và nền giáo dục cũng không có một hướng đi đúng đắn cho vấn đề đạo đức. Thậm chí việc bỏ tiền lo lót cho quan lại, hay việc biếu xén thầy cô để con có thành tích học tập cao lại được xem như một điều “tất nhiên”, “rất đỗi bình thường”.
Nếu như áp dụng phép trị quốc của vua Lê Thánh Tông và của trạng nguyên Vũ Kiệt, thì hẳn là nhiều quốc nạn sẽ được dẹp bỏ.
Trần Hưng
https://trithucvn.net/van-hoa/bai-thi-cua-trang-nguyen-dat-viet-tro-thanh-kiet-tac-tri-quoc-chong-tham-nhung-chan-hung-giao-duc.html

Nhãn:

Lừng danh sử Việt: Đội quân duy nhất thế giới từ vua đến tướng đều là phụ nữ

Trong thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, người Bách Việt chỉ giành được độc lập ngắn khi có các cuộc khởi nghĩa nổ ra. Điều kỳ lạ là cuộc khởi nghĩa đầu tiên nhằm thoát khỏi ách đô hộ của nhà Hán lại được lãnh đạo bởi toàn bậc nhi nữ. Đây là điều mà người Hán có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng ra được.
Lừng danh sử Việt: Đội quân duy nhất thế giới từ vua đến tướng đều là phụ nữ
Cuộc khởi nghĩa đầu tiên nhằm thoát khỏi ách đô hộ của nhà Hán được lãnh đạo bởi toàn bậc nhi nữ.
Hình ảnh các nữ nhi người Việt tiên phong xông pha trận mạc đã trở thành nỗi kinh hoàng ám ảnh quân Hán lúc đó:
  • Vùng Mê Linh có chị em Trưng Trắc, Trưng nhị.
  • Vùng Yên Dũng, Bắc Giang có nữ tướng Thánh Thiên.
  • An Biên, Hải Phòng có căn cứ của Lê Chân.
  • Tiên La (Thái Bình) có Bát Nạn tướng quân.
  • Bạch hạc (Vĩnh Phú) có nàng Hội.
  • Nga Sơn, Thanh Hóa có Lê Thị Hoa.
  • Động Lão Mai ở Thái Nguyên có Hồ Đề.
  • Tam Nông, Vĩnh Phú có Xuân Nương.
  • Châu Đại Man (Tuyên Quang) có Nàng Quỳnh, Nàng Quế.
  • Thanh Sơn, Vĩnh Phú có Đàm Ngọc Nga.
  • Tam Thanh (Vĩnh Phú) có Thiều Hoa.
  • Bạch Hạc (Vĩnh Phú) có Quách A.
  • Tiên Nga (Vĩnh Phú) có Vĩnh Hoa.
  • Vĩnh Tường, Vĩnh Phú có Lê Ngọc Trinh.
  • Đường Lâm – Sơn Tây có Lê Thị Lan.
  • Thanh Ba (Vĩnh Phú) có Phật Nguyệt.
  • Lang Tài (Bắc Ninh) có Phương Dung.
  • Thương Hồng (Hải Dương) có Trần Nang.
  • Gia Lâm, Hà Nội có Đường Quốc.
  • Bình Xuyên (Vĩnh Phú) có ba chị em Đạm Nương, Hồng Nương, Thanh Nương.
  • Chí Linh, Hải Dương có Quý Lan.
Các nhà sử học xem đây là một chuyện kỳ lạ có một không hai trên thế giới, một dân tộc sau 2 thế kỷ bị đô hộ đã có một cuộc khởi nghĩa ở khắp nơi, mà thủ lĩnh lại toàn là phụ nữ. Trong các thủ lĩnh này, ngoài hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị rất quen thuộc với người Việt, nổi lên hai vị nữ tướng là Thánh Thiên và Lê Chân.

Nữ nhi làm thủ lĩnh

Theo dân gian lưu truyền, thời ấy tại làng Bích Uyển thuộc phủ Kinh Môn, quận Hải Dương một vị quan là Nguyễn Huyến cùng vợ về quê ở ẩn, trước ngày sinh phu nhân nằm mộng thấy một người con gái tự xưng là “Tự nơi dương đình khâm thụ mệnh Trời, xuống đầu nhập thai sinh”. Phu nhân thụ thai đúng 13 tháng, giữa ngày 12 tháng 2 năm Ngọ sinh một gái mày ngài, mắt phượng, tướng mạo oai nghiêm, vợ chồng rất yêu quý con mà đặt mệnh danh cho là Thánh Thiên công chúa.
Thánh Thiên thông minh đĩnh ngộ, học một biết mười, năm lên 9 tuổi tam phần, ngũ điển, lục thao, tam lược đều quán thông. Năm 12 tuổi đã có tài văn chương, thông thạo võ thuật
Ông Nguyễn Huyến thường ngày vẫn đem tâm sự gửi gắm trong mấy câu thơ ngâm nga:
Từ khi thất quốc, vong gia
Vợ chồng, con cái đến nhờ thuyền môn
Lòng riêng báo quốc không chồn
Bình lương chứa chất luôn luôn đã nhiều
Ai tài chửa thấy ai theo
Một mình công việc trăm chiều khó đương
Sau khi cha mẹ qua đời, Thánh Thiên chiêu mộ quân sĩ, luyện chiến thuật, nổi danh một phương. Nghe tin cậu mình từ quan chiêu mộ trai làng, Thánh Thiên đưa quân đến phối hợp cùng cậu mình, giành được nhiều thắng lợi ở vùng Yên Dũng, Bắc Giang. Người Hán liên tục đưa quân tiến đánh nhưng lần nào cũng bị bại trận phải rút về.
Lừng danh sử Việt: Đội quân duy nhất thế giới từ vua đến tướng đều là phụ nữ
Thánh Thiên công chúa (Ảnh minh họa)
Một nữ tướng khác là Lê Chân sinh ra ở làng An Biên (tên cổ là làng Vẻn, nay thuộc thôn An Biên, xã Thủy An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), con ông Lê Đạo và bà Trần Thị Châu. Gia đình họ Lê chuyên dạy học, làm thuốc, làm nhiều việc thiện cho dân quanh vùng.
Theo dân gian truyền lại thì ông bà Lê Đạo tuổi cao, muộn con nên rất lo lắng. Một hôm, hai vợ chồng lên chùa Yên Tử làm lễ cầu tự. Đêm ấy, ông Lê Đạo nằm mơ thấy hai vị thiên sứ một vị mặc áo xanh tay cầm kim mâu, một vị mặc áo tía tay cầm bảo kiếm dẫn ông lên thiên cung. Ông bàng hoàng kinh sợ vội sụp lạy trước một vị đại quan ngồi trong điện, đầu đội mũ bách tinh, mình mặc áo bào vàng; bên trái bên phải mỗi bên có một vị quan tay cầm giấy bút. Ông Lê Đạo văng vẳng nghe thấy lời truyền bảo:
“Nhà ngươi có phúc lớn, tiếng đến thiên đình. Nay nhân có một tiên nữ phạm lỗi, đày xuống trần 40 năm, cho đầu thai làm con nhà ngươi, sau sẽ làm rạng rỡ gia đình, con trai cũng không sánh kịp”.
Bỗng chuông trống chói tai làm ông chợt tỉnh, biết là nằm mơ. Vợ chồng ra về, một buổi sáng sớm, bà đi ra ngoài ấp thấy một vết chân lớn, đưa chân ướm thử, thấy người xúc động rồi có thai. Sau 12 tháng, sinh được một gái (hôm ấy là ngày 08 tháng 02) mày ngài mắt phượng, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Nhân cớ ướm chân nên đặt tên là Chân.
Năm Lê Chân 18 tuổi, sắc đẹp và đức hạnh nổi tiếng khắp vùng. Không chỉ có tài thơ ca mà giỏi cả võ nghệ.
Lừng danh sử Việt: Đội quân duy nhất thế giới từ vua đến tướng đều là phụ nữ
Lê Chân (Ảnh minh họa)
Thái thú Tô Định muốn ép Lê Chân về làm tì thiếp, nhưng Lê Chân đã dứt khoát từ chối vì thế mà Tô Định đã sát hại cả bố mẹ nàng. Lê Chân trốn thoát được liền tìm thầy học binh thư, võ nghệ, kết giao với những người cùng chí hướng.
Khi đã tinh thông võ nghệ, Lê Chân cùng các bạn bè tâm phúc theo đường sông xuôi về phía nam. Đến đất An Dương, của sông Cấm (Hải Phòng ngày nay), thì thấy nơi đây đất đai màu mỡ liền dừng chân lập trại khai phá, chiêu thêm dân đến, lập xóm ấp, trồng dâu, nuôi tằm, khai thác thủy hải sản, đồng thời chiêu lập binh mã.
Nhớ cội nguồn, Lê Chân đặt tên cho nơi đây là An Biên trang. Binh sĩ chiêu mộ được tập luyện rất chu đáo và có sở trường thủy trận.

Cuộc khởi nghĩa của các nữ tướng

Mặc dù thời bấy giờ, các cuộc khỏi nghĩa có rất nhiều, nhưng lại không có sự liên kết giữa các nơi. Chính vì vậy, cuối năm 39 sau Công Nguyên, Hai Bà Trưng khởi nghĩa, hiệu triệu tất cả các thủ lĩnh cùng quy tụ về. Thánh Thiên, Lê Chân cùng hàng chục các nữ thủ lĩnh khác cùng về theo Hai Bà Trưng.
Lừng danh sử Việt: Đội quân duy nhất thế giới từ vua đến tướng đều là phụ nữ
Hai Bà Trưng khởi nghĩa.
Năm 40 sau Công Nguyên, Hai Bà Trưng xuất quân. Đại hội quân sĩ được tổ chức tại Hát Môn, Trưng Trắc lập đàn tráng, cáo lễ với trời đất, tự xưng là Trưng Nữ Vương, rồi chia quân tiến đánh các nơi.
Thánh Thiên Công Chúa cưỡi ngựa xông trận, quân Hán chặn lại. Ngày xưa mỗi khi ra trận các tướng thường khiêu chiến và đánh trước. Tướng quân Hán thấy tướng quân Nam chỉ là một nữ tướng thì cả cười, không ngờ chỉ mấy đường kiếm Thánh Thiên đã chém bay đầu tướng Hán, thêm một tướng Hán nữa xông trận lại bị Thánh Thiên chém chết. Không chịu nổi nỗi nhục khi quân Bách Việt chỉ có nữ tướng mà hạ liền hai tướng của mình, quân Hán đưa thêm tướng vào trận, thế nhưng chỉ thấy vài đường kiếm đã bị Thánh Thiên chém bay đầu. Mới chỉ thoáng chốc quân Hán mất liền 3 tướng, cả quân tướng Hán đều thất kinh.
Quân Nam hò reo dậy đất, sĩ khí ngùn ngụt xông lên, quân Hán hoảng sợ tháo chạy. Quân Hai Bà Trưng tiến thẳng đến Luy Lâu. Thái thú Tô Định, phải cạo râu, cạo tóc, vứt bỏ cả ấn tín, trà trộn vào đám loạn quân của mình rồi chạy trối chết về nước.
Đường tiến quân của Hai Bà Trưng năm 40 SCN.
Đường tiến quân của Hai Bà Trưng năm 40 SCN.
Tất cả các châu quận đều được quân Hai Bà Trưng chiếm lại, gồm các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải v.v… tức bao gồm cả tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông Trung Quốc ngày nay.
Bản đồ Lĩnh Nam thời Trưng Vương.
Bản đồ Lĩnh Nam thời Trưng Vương.
Sách sử nhà Hán có ghi chép lại rằng: “Năm Kiến Vũ thứ 16 (tức năm 40 sau Công Nguyên), người con gái ở Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị làm phản, đánh phá quận. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, là vợ Thi Sách người Chu Diên, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, Trưng Trắc phẫn nộ, vì thế mà làm phản. Do vậy, những người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Gồm chiếm được 65 thành tự lập làm vua. Thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ giữ được thân mình mà thôi.”
Năm 40 sau Công Nguyên, dân tộc Bách Việt làm chủ chính mình, quét sạch quân Hán ra khởi bờ cõi.
Đây cũng là lần duy nhất trong lịch sử thế giới, một đội quân mà người cầm quân hầu hết là phụ nữ trẻ tuổi, nhưng không chỉ giành chiến thắng mà còn lập ra một vương triều mới, lịch sử ghi nhận chỉ diễn ra duy nhất một lần ở Việt Nam.
Các lễ hội mừng thắng trận diễn ra, người dân đều suy tôn Trưng Trắc lên làm vua. Sau khi lên ngôi vua, Trưng Trắc cho đóng đô ở Mê Linh, củng cố thành lũy sẵn sàng chống giặc.
Lê Chân năm ấy mới 24 tuổi được phong là Thánh Chân công chúa, giữ chức chưởng quản binh quyền nội bộ, đứng ra tổ chức, luyện tập quân sĩ. Lê Chân huấn luyện quân sĩ liên kết nhằm tạo sức mạnh tập thể.

Cuộc chiến bảo vệ giang sơn

Thái thú Tô Định khi chạy trốn về nước, Mã Viện dâng sớ lên Hán Quang Vũ Đế hạch tội: “thấy tiền thì giương mắt lên, thấy giặc thì cụp mắt xuống”.
Năm 42 sau Công Nguyên, Hán Quang Vũ Đế phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với Đoàn Chí đem ba vạn quân sang đánh chiếm Bách Việt.
Thế nhưng quân của Mã Viện khi từ Hợp Phố tiến sang gặp ngay phải đội quân của Thánh Thiên. Hai bên giao chiến ba, bốn trận, quân Hán bị bại trận, thây chết ngổn ngang, không tiến được phải lùi về vùng Mã Giang. Uy danh của dũng tướng Thánh Thiên khiến quân tướng nhà Hán đều kinh hoàng.
Mã Viện phải dâng biểu về triều đình xin thêm tướng giỏi và quân tinh nhuệ giúp sức: “Nam bang có nữ tướng Thánh Thiên dụng binh như thần, trí dũng thiên phương, không sao phục được. Xin bệ hạ phái thêm các tướng giỏi và tiếp thêm quân sĩ sang giúp sức”.
Vua Hán lập tức cho thêm quân tướng tinh nhuệ sang giúp Mã Viện cùng mật truyền: “Nên dùng mưu mà đánh”.
Mã Viện là một viên tướng giàu kinh nghiệm, qua quan sát lối đánh của quân Bách Việt, viên tướng này nhận thấy sức mạnh của quân Việt chính là sự đoàn kết. Một người lính Việt có thể đánh thua một người lính Hán, nhưng nhiều quân Việt thì lại đánh thắng nhiều quân Hán. Từ đó Mã Viện đã tìm được cách phá vỡ thế trận quân Nam, nhất là khi đã có thêm viện binh đến.
Bị quân của Thánh Thiên chặn đường bộ, Mã Viện cho quân đến Hợp Phố rồi đi theo đường biển tiến đánh xuống phía nam. Đội quân phòng thủ vùng biển Đông Bắc do Lê Chân chỉ huy, quân Nam chặn chiến thuyền quân Hán ngay tại cửa sông Bạch Đằng. Tướng quân Bát Nạn cũng đưa quân đến chặn quân trên bộ của Mã Viện ở cửa biển, phối hợp cùng cánh quân của Lê Chân.
Lê Chân cho dựng các chướng ngại trên sông, dùng thuyền nhỏ nhẹ nhưng cơ động của mình đánh vào mạn thuyền to lớn của quân Hán khiến quân Hán thiệt hại nặng nề.
Suốt dọc cửa sông Bạch Đằng, trên bờ và dưới nước, quân Việt do Bát Nạn cùng Lê Chân chỉ huy giao chiến ác liệt cùng quân Hán. Song quân Hán lực lượng đông hơn, được trang bị nhiều loại vũ khí khác nhau đã đánh lui quân Nam, hai nữ tướng đành phải lui quân.
Các thuyền của Lê Chân nhỏ nhẹ nên di chuyển rất nhanh, chẳng mấy chốc đã bỏ xa quân Hán. Về kinh đô Mê Linh hội với quân Hai Bà Trưng tại đây.
Mã Viện chọn vùng Lãng Bạc (Tiên Du ngày nay) để hội quân, nơi đây địa thế thuận lợi để quân Hán có thể phòng thủ, quân thủy bộ dễ dàng hỗ trợ cho nhau.
Trung Vuong
Trưng Trắc chờ mãi không thấy quân Hán có động tĩnh gì liền chủ động đưa quân đến đánh thẳng vào Lãng Bạc. Quân tiên phong do Lê Chân chỉ huy giao tranh với quân Hán nhiều ngày, quân Hán cố thủ nhưng bị quân của Lê Chân đánh mạnh khiến thiệt hại rất nhiều, cộng thêm cái nắng mùa hè khiến quân Hán mệt mỏi vì bệnh tật. Tướng Hán là Hàn Vũ cũng bị thiệt mạng do bệnh.
Nhiều nhà nghiên cứu xác định trận đánh diễn ra rất ác liệt nhiều ngày ở trên đồi, chân đồi và cả khúc sông thuộc vùng Tiên Du. Quân Hán còn rất mạnh, quân số đông, có lực lượng thuỷ, bộ phối hợp, quen trận mạc, thành thạo đánh tập trung theo cách đánh trận địa. Mã Viện là một lão tướng già dặn kinh nghiệm chiến trường, từng lập nhiều chiến công trong các cuộc đàn áp các phong trào nổi dậy chống nhà Hán.
Để phá thế mạnh liên kết quân Việt, Mã Viện có quân số đông đã cho quân chia cắt quân Nam ra để đánh, khiến quân Việt khó tạo ra sức mạnh liên kết. Sau thời gian dài không thắng được, Hai Bà Trưng phải rút quân về thành Cổ Loa. Quân Việt thiệt hại rất nặng.
Mã Viện cho quân tiến đánh Cổ Loa, quân Nam lui về kinh đô Mê Linh, rồi đến Cấm Khê. Những nghiên cứu mới đây cho thấy Cấm Khê có thể ở thung lũng Suối Vàng, ở chân ngọn núi Vua Bà cao 525m, trong dãy Ba Vì thuộc Hà Tây.
Cấm Khê là nơi thuận lợi để lập trận phòng ngự. Quân Hán cho quân đến đánh Cấm Khê, chiến trận diễn ra ác liệt từ mùa hè năm 42 đến mùa xuân năm 43 thì Cấm Khê thất thủ, Hai Bà Trưng cùng Lê Chân chia hai ngả rút ra khỏi căn cứ. Hai Bà Trưng chạy đến sông Hát thì không thể thoát được đành nhảy xuống sông tự vẫn để không sa vào tay giặc.
Thánh Thiên lúc này đang ở mạn Bắc, nghe tin Cấm Khê thất thủ thì vội đưa quân đến ứng cứu nhưng không kịp, liền đưa quân đóng ở sông Nhật Đức (tức sông Thương ngày nay). Quân Hán tiến đánh với chiến thuật chia cắt đội hình, quân của Thánh Thiên không thích nghi được nên thất trận phải rút về Ngọc Lâm.
Quân Hán tiến đánh Ngọc Lâm, trong trận giao tranh ác liệt, bị bao vây tứ phía, Thánh Thiên đánh đến kiệt sức rồi hy sinh tại bến Ngọc (tên chữ là Ngọc Chử, là một bến của con sông nhỏ Đa Mai) thuộc địa phận làng Ngọc Lâm ngày nay.
Nữ tướng Lê Chân rút theo đường thủy đến vùng Lạt Sơn, nhận thấy nơi đây núi rừng hiểm trở có thể chặn quân Hán. Lưng có thể dựa vào dãy núi hình cánh cung; trước mặt, phía Đông là sông Đáy, sông Ngân như hai hào nước. Địa hình căn cứ tiến có thể đánh, lui có thể giữ, đầu cuối hô ứng lẫn nhau.
Lê Chân vừa xây dựng căn cứ, vừa chiêu mộ thêm quân sĩ. Căn cứ chưa xây xong thì Mã Viện đưa quân tiến đánh, nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra. Biết rõ không thể giữ căn cứ lâu dài, Lê Chân để một nữ tướng khác là nàng Tía cùng một lượng lớn quân rút về phía Nam, còn Lê Chân cùng một số ít quân tâm phúc tiếp tục ở lại tử thủ với quân Hán.
Quân còn lại của Lê Chân rất ít không đủ sức đánh với quân Hán. Trận chiến ác liệt cuối cùng diễn ra ở Đồng Loạn, nữ tướng Lê Chân cùng mấy tướng tâm phúc rút lên núi Giát Dâu. Vào chiều ngày 13 tháng 7 năm Quí Mão (tức năm 43 sau Công Nguyên) nữ tướng Lê Chân 27 tuổi, từ trên đỉnh núi nước mắt chảy dài, nhìn lại giang sơn một lần cuối cùng rồi gieo mình xuống dưới núi.
Lừng danh sử Việt: Đội quân duy nhất thế giới từ vua đến tướng đều là phụ nữ
Hình ảnh tưởng niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
Sau 3 năm ngắn ngủi giành được quyền tự chủ, dân tộc Bách Việt lại chìm vào thời kỳ Bắc thuộc.
Sức mạnh của quân Việt thời đấy là sức mạnh đoàn kết, binh lính kết nối với nhau tạo ra sức mạnh đương đầu với quân Hán. Mã Viện đã nhìn ra đặc điểm này, nhờ quân đông lại thiện chiến hơn, Mã Viện đã cho quân thực hiện chiến thuật chia cắt quân Việt ra để đánh và đã thành công.
Sử gia Nguyễn Nghiễm thời Lê trung hưng bình rằng:
Trưng Vương là dòng dõi bậc thần minh, nhân lòng dân oán hận, nổi giận, khích lệ người cùng chung mối thù. Nghĩa binh đi đến đâu gần xa đều hưởng ứng, 65 thành ngoài miền Ngũ Lĩnh một buổi sớm đều thu phục được, người dân chịu khổ từ lâu, không khác gì đã ra khỏi vực thẳm được thấy mặt trời. Bà quả là bậc anh hùng khí khái hơn người. Tuy rằng quân mới tập hợp, bị tan rã khi đã thành công, cũng làm hả được lòng căm phẫn của thần dân một chút… Khi đất nước bị chìm đắm, thì hầu như lại được khôi phục do một nữ chúa ở Mê Linh. Lúc đó bậc con trai mày râu phải cúi đầu ngoan ngoãn tuân theo không dám làm gì, chẳng đáng thẹn lắm sao?
Đó âu cũng là lời bình nhắc nhở những người đàn ông nhân ngày Quốc tế Phụ nữ. Bởi vì ngày nay phụ nữ đang phải hy sinh rất nhiều, vừa phải lo cho sự nghiệp, vừa phải chu toàn công việc gia đình. Thiết nghĩ, người đàn ông Việt cần thật sự là “nóc nhà”để người phụ nữ an tâm với thiên chức của một người vợ, người mẹ.
Trần Hưng
https://trithucvn.net/van-hoa/lung-danh-su-viet-doi-quan-duy-nhat-gioi-tu-vua-den-tuong-deu-la-phu-nu.html

Nhãn: