Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017

Khai Quật Các Ngôi Chùa Cổ: Chùa Nậm Dâu Thời Trần Ở Tỉnh (Hà Giang)

Trần Anh Dũng


Di tích kiến trúc cổ Nậm Dầu thuộc thôn Nậm Thanh, xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Di tích nằm ở ngã 3 sông - nơi hợp lưu của suối Nậm Dầu và sông Lô, trên phần trán rồng - một trong những đỉnh núi đất cao thuộc dãy núi Rồng. Bên trên hiện có đền Nậm Dầu. Phía trước hướng ra dòng sông Lô và suối Nậm Dầu. Phía đông và tây của núi Rồng là 2 núi khác hình mâm xôi, nên cũng có tên là núi Mâm Xôi.
Từ năm 2005 đến năm 2007, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Bảo tàng tỉnh Hà Giang đào thám sát và khai quật di tích Nậm Dầu. Kết quả là đã phát hiện được ở đây khá nhiều dấu vết kiến trúc cổ và nhiều di vật thời Trần ở cuối thế kỉ 14.
Di vật phát hiện được tương đối phong phú, gồm nhiều thời đại, nhưng chủ yếu là vật liệu kiến trúc và trang trí kiến trúc thời Trần.
Di vật thế kỷ XIII – XIV gồm có đồ gốm sứ và vật liệu kiến trúc, trang trí kiến trúc.
Đợt khai quật này đã phát hiện được 70 lá đề, trong đó có 10 lá đề tương đối nguyên vẹn, có 2 loại: lá đề lệch trang trí rồng và lá đề cân trang trí hình tháp 5 tầng và hoa cách điệu.
Lá đề lệch, có 22 hiện vật, lá đề lệch (dùng để lắp ghép với ngói bò trang trí ở bờ nóc của kiến trúc), hai mặt in nổi hình rồng, dáng thon, mỏng, diềm là hai tay hoa uốn hình sin, cuống ở phía dư­ới đấu lưng vào nhau hình chữ "X”. Toàn thân lá đề là hình một con rồng miệng nhả ngọc, một tay tr­ước vuốt râu, bờm tốc ngư­ợc lên phía trên, mào dài, hình ngọn lửa.
Lá đề cân có 50 hiện vật, một mặt trang trí hình tháp 5 tầng và hoa hình móc cách điệu, đế tháp có 2 bông hoa cách điệu nâng đỡ. Lá đề cân được gắn với ngói mũi sen kép, lợp ở mái hiên. Ngói sen hiên đ­ược làm theo kiểu 1 viên ngói sen to ở giữa, xen lẫn một nửa của 2 viên ngói sen nhỏ ở hai bên.
Ngói thu được gồm có các loại: ngói mũi sen, ngói mũi vát, ngói bò… Tổng số có 4702 hiện vật, trong đó có nhiều viên ngói mũi sen và mũi vát còn nguyên vẹn.
Ngói mũi sen phát hiện được 877 viên, hầu hết đều bị vỡ, có 12 viên còn nguyên vẹn. Ngói mũi sen chỉ có duy nhất một loại. Đó là ngói có mũi nổi cao, từ giữa thân đến đầu mũi ngói có hai đường khắc chìm thể hiện 3 lớp cánh sen. Ngói sen thường có kích thước 33x19,3x1,5cm và 34,1x19,8x1,8cm .
Ngói bò (Ngói úp nóc) phát hiện được 82 hiện vật, chỉ có 10 hiện vật còn đủ dáng, số còn lại đều bị vỡ. Ngói bò cũng chỉ có một loại: Ngói bò mặt cắt hình chữ V doãng, bên trên có gắn hoặc lắp ghép lá đề lệch trang trí rồng.
Ngói bò gồm có 3 bộ phận: thân ngói, đế ngói và lá đề. Bộ phận thân ngói có sống nổi ở giữa lưng, hai bên bản ngói vát hình chữ V, một bên bản ngói được trổ lỗ hình chữ nhật để lắp ghép bộ phận đế và lá đề lệch. Loại ngói bò này cũng có phần cổ ngói. Cổ ngói nằm ở bộ phận thân ngói. Ở diềm giáp với cổ ngói thường có khắc các chữ Hán Đồng Quang, chưa hiểu được ý nghĩa của từ này. Thân ngói có chiều dài từ 37,9cm đến 39cm, dày từ 2,4cm đến 3,2cm. Bộ phận đế ngói liên kết giữa lá đề và thân ngói. Đế ngói có hình dáng gần giống như ngói bò mặt cắt hình chữ D, lưng cong, bụng hơi lõm lòng máng. Giữa lưng có một lỗ trổ thủng hình chữ nhật để tra cán của lá đề. Thông thường cán lá đề được tra dài hơn xuống mặt sau của đế ngói chừng 5- 7cm, cuối của cán lá đề có lỗ thủng hình tròn để chốt đinh tre hoặc kim loại. Đế và lá đề được lắp với nhau từ khi đất còn ướt bởi trên lưng của đế và lá đề, bụng của đế còn vết miết kín bằng đất sét. Ở hai bên sườn hoặc đầu của bộ phận đế có khắc các chữ Hán khác nói rõ vị trí, thứ tự của lá đề lắp ghép với viên ngói bò được lợp ở nóc kiến trúc: nhất, nhị, tam, ngũ, cửu, thứ thập...Bộ phận lá đề được gắn trên lưng ngói bò chỉ là loại lá đề lệch. Đặc trưng của lá đề ở đây dài, mỏng và chốt cắm  dài, in nổi hình rồng ở hai mặt. Một số viên còn tương đối nguyên vẹn. Cuống lá đề gắn trên lưng ngói bò, bụng ngói có chốt hình chữ nhật. Mặt lưng ngói đánh số thứ tự bằng chữ Hán (có 2 tiêu bản, 1 tiêu bản viết chữ “ngũ” và một tiêu bản có viết chữ “thứ thập” cho biết vị trí của viên ngói bò được lợp trên bờ nóc.
Tất cả những viên ngói bò đều có mặt cắt chữ V và khắc chữ Hán đánh dấu vị trí lợp đã được chúng tôi xem xét và thống kê lại và thấy rằng, viên có số thứ tự cao nhất chỉ có đến số 10. Nhưng chắc chắn rằng trên một bờ nóc, người ta chỉ có thể lợp một loại ngói bò mà thôi, bởi nếu là hai loại thì cổ của chúng sẽ không thể lắp khít với nhau.
Như vậy, tạm giả thiết rằng: nếu ngôi nhà có bờ nóc lợp bằng loại ngói bò mặt cắt chữ V, mà chiều dài nhất của loại ngói này là hơn 39cm thì nhà sẽ chỉ có chiều dài là 3,9m, sẽ rất vô lý. Trong khi đó chúng tôi lại phát hiện được hai loại ngói sen và ngói bò bị đổ xuống trên cùng một nền kiến trúc. Các viên ngói sen khi bị sập xuống vẫn còn giữ nguyên hướng đổ, giữ nguyên trạng thái bị trút xuống từng mảng. Như vậy có thể là ngói bò nóc sẽ được lợp cho một gian, mỗi gian sẽ có 10 viên. Điều này có vẻ hợp lý hơn. Thông thường thì nhà thường có 3 gian, hoặc 5 gian. Khoảng nền cổ phát hiện được cũng chỉ phù hợp với kích thước của nhà 3 gian. Nếu giả thiết này là đúng, thì kiến trúc lợp ngói bò nóc mặt cắt chữ V tìm thấy ở đây sẽ có chiều dài khoảng hơn 39m. Kiến trúc lợp ngói bò nóc hình chữ V doãng được xác định nằm ở hướng tây nam.
Chúng tôi đã phát hiện được 3083 mảnh ngói mũi vát. Ngói mỏng, độ nung không cao, mấu ngói được ấn bằng tay, ở khoảng giữa của chiều dài hai bên được cắt vát tạo cho ngói có mũi vát nhọn. Mặt phải của ngói thường có các vết vuốt tay tạo hình cánh sen. Đợt khai quật đã phát hiện được 13 mảnh của tấm trang trí kiến trúc đất nung, trong đó tấm còn nguyên vẹn dài 33cm.
Loại di vật này hiện chưa rõ công dụng và vị trí của nó trong kiến trúc. Nó được phát hiện tương đối nhiều trong các kiến trúc thời Trần muộn và đặc biệt là trong các di tích kiến trúc thời Trần - Hồ như Ly Cung, thành nhà Hồ và đàn Nam Giao (Thanh Hoá). Tấm trang trí hình chữ nhật chia làm hai phần, phần trên trang trí các băng hoa văn theo thứ tự từ trên xuống dưới: băng chấm tròn nổi, hoa dây hình sin, băng sóng nước hình sin…; Phần dưới để trống không có hoa văn trang trí.
 Tượng  Uyên ương, phát hiện được 3 hiện vật gồm: 2 mảnh thân, 1 mảnh đầu. Đầu uyên ương: Giống đầu vịt, mỏ, cổ dài, gầy, gờ mày cao, mắt tròn, không có mào lửa, ít chi tiết trang trí.Thân uyên ương: Mình chim, mất đầu, tư thế đang đậu, đầu ngẩng cao. Thân khắc chìm lông vũ, cổ khắc chìm nhiều ngấn hình cung, thể hiện các lớp lông cổ, cánh xoè, ngắn, phần thân còn lại cao 15,5cm. Trong đợt đào thám sát năm 2005 cũng phát hiện được 2 thân uyên ương cùng loại.
Tượng rồng được trang trí ở trên bờ nóc của kiến trúc phía bắc. Kiến trúc này có bộ mái lợp bằng ngói mũi vát. Trong đợt điều tra di tích Nậm Dầu vào năm 2005, Bảo tàng tỉnh Hà Giang cũng phát hiện một số mảnh thân rồng cùng loại. Rồng có thân tròn, rỗng, lưng có vây, thân tạo vẩy, là những đường vòng cung.
 Đầu tượng quái thú cao 17cm, bằng đất nung đã bị vỡ không rõ hình dáng, lưỡi và râu xoắn ốc, hàm dưới tuy chỉ bị vỡ một phần nhưng không nhận rõ.
Trong đợt khai quật này, chúng tôi cùng nhân dân phát hiện một số đồ gốm men ngọc Việt Nam thời Trần và đồ gốm men ngọc thời Nguyên (thế kỷ XIII – XIV) ở bờ sông Lô, dưới chân núi Rồng, đối diện với di tích kiến trúc Nậm Dầu đều là bát dáng phễu, chân đế gần đặc, lòng in nổi hoa cúc dây hình sin.
Ngoài ra còn phát hiện cả đồ sứ Trung Quốc với 2 chiếc đĩa men ngọc thời Nguyên, màu xanh rêu, lòng in nổi 2 con cá ngược chiều nhau.
Tại khu vực hậu cung của đền (xây đầu những năm 1990), chúng tôi đã phát hiện được trong lớp đất tôn nền một số mảnh chậu hoa in nổi cây cảnh và 1 chiếc bình cắm hoa bằng đất nung, thân in nổi hình rồng mây. Có lẽ đây là những đồ thờ còn lại của ngôi đền cổ ở đầu thế kỉ XX.
Di tích chùa cổ Nậm Dầu không hề có một dòng ghi chép nào trong cổ sử cũng như sách địa chí cổ. Di tích Nậm Dầu có rất nhiều di vật mang đậm phong cách thời Trần muộn, khoảng cuối thế kỷ XIV. Ngói bò đặc trưng ở di tích Nậm Dầu là loại mặt cắt hình chữ V doãng, bản ngói vát và chỉ được lắp ghép với lá đề lệch. Loại ngói này có từ thời Lý, ở các giai đoạn sớm, ngói dày, nặng, độ doãng của bụng ngói rộng. Ngói bò không chỉ được gắn với lá đề lệch mà còn được gắn với lá đề cân. Lá đề được gắn trực tiếp trên lưng ngói, gồm có hai bộ phận lá đề và ngói. Phần lá đề, cuống là mây ba chẽ, ngọc báu, bên trên là thân lá đề in nổi rồng hoặc phượng. Ngói bò ở Nậm Dầu lại có ba bộ phận: ngói, đế và lá đề. Đây là lần đầu
Hình 1&2: Các bộ phận của ngói bò- Ngói bò được lắp ghép hoàn chỉnh
 
Hình 3: Kiểu lắp ghép thứ hai (Ly Cung)
tiên tìm được. Loại ngói bò có ba bộ phận có thể cũng có ở các giai đoạn sớm. Ở giai đoạn muộn, cách lắp ghép lá đề, về đại thể tương tự như nhau. Tại Ly Cung cũng tìm thấy ngói bò có ba bộ phận, tuy nhiên cách lắp ghép các bộ phận với nhau thì lại khác với ở Nậm Dầu. Ngói bò ở Ly Cung có hai kiểu lắp ghép lá đề:
- Kiểu thứ nhất: đế ngói được khoét lỗ mộng có hai bậc cấp bên trên lắp lá đề, cuống lá đề có lỗ thủng tròn chốt ở mặt trên của đế ngói (hình 1, 2).
- Kiểu thứ hai: giữa lưng ngói nhô lên một mấu nhỏ lắp ghép với cuống lá đề ở bên trong khoét hình tứ giác, hai mặt cuống có một lỗ tròn thủng.
Kiểu lắp ghép lá đề ở Nậm Dầu chỉ có một kiểu: lá đề được lắp ghép liền với phần đế từ khi đất còn ướt. Đế lá đề trổ lỗ thủng hình tứ giác để toàn bộ chốt lá đề xuyên qua lỗ thủng ở đế và một bên bản của ngói bò. Chốt ngang được cài ở dưới bụng của ngói bò. Một bên bản lá đề trổ khung hình tứ giác có hai lớp, lớp trong thủng, lớp ngoài được trổ sao cho độ dày của nó tương đương với độ dày của đế lá đề. Lưng của đế lá đề được làm hơi cong để dễ thoát nước. Có thể là sau khi lắp ghép người ta sẽ dùng một loại keo hay nhựa cây tự nhiên để miết vào khe hở giữa đế lá đề và bản ngói được trổ thủng.
Cách lắp ghép lá đề ở chùa Báo Ân (Gia Lâm - Hà Nội) kết hợp tương tự cả hai kiểu ở Ly Cung.
Như vậy, ở giai đoạn muộn, cách lắp ghép lá đề trên ngói bò phong phú hơn vì được thừa hưởng truyền thống kỹ thuật mà khởi đầu là từ thời Lý.
Trong các di tích kiến trúc thời Lý – Trần ở Hoàng thành Thăng Long, đền Trần, chùa Phật Tích, đàn Nam Giao Thăng Long… cũng đã phát hiện được tượng uyên ương hoặc lá đề gắn trên ngói cong hình lòng máng doãng. Nhưng chúng ta chưa hề biết làm cách nào để các viên ngói này liên kết với nhau thành hàng trên bờ nóc mà không bị đổ? Với phát hiện ngói bò của di tích Nậm Dầu thì chúng ta đã biết được rằng phần ngói cong có gắn uyên ương hoặc lá đề trang trí rồng, phượng, chỉ là một bộ phận của viên ngói bò. Muốn lợp được thì bộ phận đó còn phải liên kết với đế ngói. Các viên ngói muốn liên kết được với nhau thì ở một đầu của đế ngói, phải có cổ ngói – phần được cắt khấc để nối với một viên ngói bò hoàn chỉnh khác. Lá đề lệch ở Nậm Dầu mang phong cách Trần muộn với những đặc điểm mỏng, thon, không có các lỗ thủng ở diềm, thậm chí cả ở thân lá đề. Diềm lá đề hình hoa lá cách điệu, không còn là những ngọn lửa nhỏ. Cuống lá đề cũng trang trí đơn giản hơn chỉ là những hình móc xoắn, chấm tròn. Đáng chú ý là hình rồng giảm bớt các chi tiết trang trí mang, mào, gờ mày, má. Và đều là loại rồng tay trước vuốt râu cằm, tay sau túm lông bờm. Phong cách trang trí này phổ biến ở giai đoạn muộn.
Cũng giống phong cách của lá đề lệch, lá đề cân mang phong cách của lá đề thời Trần muộn: diềm và trang trí bên trong là hoa lá cách điệu và các chấm tròn nổi. Tuy nhiên trang trí trên lá đề cân ở Nậm Dầu có những nét đặc thù riêng với hình tháp cách điệu, có các tầng phảng phất hình ảnh của nhà sàn, phong cách tạo hoa văn cứng gần gũi với trang trí trên đồ thêu hoặc đồ đan lát của các dân tộc miền núi phía Bắc. Lá đề in hình tháp hiện mới chỉ thấy có mặt ở thời Trần. Hình tháp trên lá đề được cách điệu lần đầu tiên thấy ở di tích Nậm Dầu. Tuy nhiên hình hoa móc xoắn đã phát hiện được ở lá đề trên góc mái của mô hình nhà đất nung thời Trần ở Nam Định.
Uyên ương vẫn mang nét thời Trần thể hiện ở các chi tiết mình ngắn, mập, cánh xoè ngang, trang trí giản lược. Tính đặc thù của uyên ương ở di tích Nậm Dầu là: trong khi uyên ương ở các công trình kiến trúc cung đình miền xuôi lấy hình mẫu của con phượng thì ở Nậm Dầu lại lấy hình mẫu của con chim, mặc dù hai vùng đều có mẫu số chung là phần đầu khá giống đầu.
Nhiều khả năng, khi di tích kiến trúc cổ Nậm Dầu đổ nát đã bị bỏ hoang suốt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX.
Cuối thế kỷ XIX, trên nền của kiến trúc này (hiện là khu vực hậu cung) đã có một miếu thờ nhỏ tồn tại cho đến cuối thế kỷ XX. Kết quả khai quật ở hố 3, trên nền sân hậu cung đó phát hiện được lớp nền đổ đè lên đống vật liệu kiến trúc thời Trần. Trong lớp nền này, phát hiện được một số mảnh đồ thờ bằng sứ có niên đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Những vật liệu kiến trúc và trang trí kiến trúc phát hiện được ở di tích này cho thấy ở nơi đây đã có một kiến trúc có quy mô lớn.
Qua 6 hố đào, gần như là đã kiểm tra được phạm vi phân bố của nền móng và vật liệu kiến trúc. Chúng tôi có thể hình dung một cách giả thiết rằng có thể Nậm Dầu là một kiến trúc cổ hình chữ Công. Cửa kiến trúc quay ra hướng ngã ba sông (hướng đông bắc). Theo chiều từ bắc xuống nam có các thành phần kiến trúc như sau:
- Đằng trước là một kiến trúc nhà ngang, hướng đông tây, mái lợp ngói mũi vát, bờ nóc gắn tượng rồng bằng đất nung, có thể góc mái gắn tượng uyên ương.
- Kiến trúc tiếp theo là một nhà dọc quay theo hướng bắc nam, mái hiên lợp ngói sen trên có gắn lá đề cân trang trí hình hoa lá cách điệu và tháp. Móng của kiến trúc này được kè bằng đá cuội mà dấu vết để lại thể hiện qua hai hố đào 5 và 6.
- Một kiến trúc nhà ngang hướng đông tây có bộ mía giống như của nhà dọc. Bờ nóc của nhà này có lợp ngói bò gắn lá đề trang trí rồng.
 Chủ nhân của kiến trúc hẳn là nhân vật có địa vị cao trong xã hội. Những lá đề trang trí rồng, tượng uyên ương chỉ dùng cho những nhân vật có liên quan đến hoàng tộc. Như một số di tích có liên quan đến hoàng hậu thời Lý như chùa Bà Tấm, chùa Dạm và một số kiến trúc cung điện khác xung quanh thành Thăng Long mới được trang trí kiến trúc trên mái. Đây là một kiến trúc có quy mô lớn, trang trí cầu kỳ, bộ mái lợp bằng ngói mũi sen 3 lớp, bờ nóc có ngói bò gắn lá đề trang trí rồng.
Nậm Dầu là 1 di tích kiến trúc cổ hiếm có, trang trọng có vị trí ở miền núi giáp biên cương phía bắc của Tổ quốc. Di tích này thể hiện khá rõ văn hoá Đại Việt thời Trần, vừa mang nét chung, vừa mang những nét riêng của vùng cao, nơi có các dân tộc anh em sinh sống.
Những đặc trưng của văn hoá Đại Việt thời Trần được thể hiện qua bố cục kiến trúc, đặc biệt là qua vật liệu và trang trí kiến trúc như ngói sen, tượng uyên ương rồng, phượng, tấm trang trí hình chữ nhật, ngói mũi vát, đầu quái thú… Đây là những di vật thường thấy trong các di tích thời Trần.
Đặc trưng của các ngôi chùa mà chủ nhân của chúng là những quý tộc cao cấp thời Lý - Trần là trên bộ mái của kiến trúc thường có uyên ương, lá đề, tượng rồng, quái thú. Đặc trưng này cũng thấy ở chùa Nậm Dầu. Rõ ràng là từ phong cách kiến trúc, trang trí kiến trúc đến vật liệu kiến trúc đều chịu ảnh hưởng đậm nét của văn hoá Việt. Tuy nhiên những ngôi chùa vùng miền núi phía tây bắc Việt Nam cũng có những đặc trưng riêng, có cách thể hiện các trang trí kiến trúc riêng, khá gần gũi với những mô típ sẵn có trong môi trường khu vực như hình trang trí trên lá đề, tượng uyên ương, tấm trang trí kiến trúc. Ở các vật liệu trang trí kiến trúc này thì các mô típ hoa văn hoa lá phát triển hơn.
Hiện nay, chúng ta đã biết đến 3 tỉnh ở miền núi phía Tây Bắc là Yên Bái, Tuyên Quang và Hà Giang, là những tỉnh đều có những ngôi chùa cổ thời Lý - Trần.
Hệ thống chùa tháp thời Lý - Trần ở vùng cao Tây Bắc phát hiện được không nhiều:
- Tại Tuyên Quang: có số ngôi chùa còn để lại dấu tích kiến trúc là Núi Man (Phật Lâm Tự), Bảo Ninh Sùng Phúc (Làng Tạc, xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hoá), chùa Phúc Lâm Tự (xã Thượng Lâm, huyện Nà Hang), chùa cổ thôn Cao Đá, xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương mới phát hiện năm 2009.
Ngoài ra theo truyền thuyết thì xung quanh khu vực thị xã Tuyên Quang còn có một số ngôi chùa nữa. Tuy nhiên việc xác minh còn phải mất nhiều thời gian.
- Tại Yên Bái: ở khu vực huyện Lục Yên có quần thể chùa tháp thời Lý - Trần quy mô lớn là Hắc Y - Bến Lăn, Chùa Hang và một số địa điểm khác.
- Tại Hà Giang: cũng chỉ mới phát hiện được hai ngôi chùa thời Trần là Nậm Dầu (thôn Nậm Thanh, xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên) và chùa tháp Bình Lâm (xã Phú Ninh, huyện Vị Xuyên).
Trong số các chùa tháp thuộc hệ thống này chỉ có 2 chùa là Núi Man và Bến Lăn - Hắc Y là đã được khai quật một cách có hệ thống, các ngôi chùa khác như Bảo Ninh Sùng Phúc (Tuyên Quang), Nậm Dầu (Hà Giang) chỉ mới được khai quật một phần. Chính vì thế tư liệu khảo cổ học về hai ngôi chùa ở vùng núi phía bắc này có một vị trí rất quan trọng trong việc tìm hiểu lịch sử văn hoá, tôn giáo, kiến trúc thời Trần. Các ngôi chùa khác cần phải được tiếp tục khai quật và nghiên cứu đầy đủ hơn.
Các di tích kiến trúc Phật giáo, đặc biệt là chùa tháp ở miền núi không hoàn toàn giống với các chùa ở miền xuôi. Nếu ở miền xuôi hệ thống chùa làng phát triển mạnh thì ở miền núi do những đặc thù về cảnh quan môi trường, điều kiện kinh tế, giao thông và cả là những điểm then chốt trong việc phòng thủ, che chắn cho miền xuôi nên chùa ở miền núi còn là một tụ điểm văn hoá xã hội và tôn giáo lớn của một vùng; là nơi quy tụ đồng bào người Kinh và đồng bào các dân tộc ít người của một vùng. Với ý nghĩa này ảnh hưởng của một kiến trúc Phật giáo ở vùng miền núi là rất rộng lớn. /.

Tài liệu tham khảo
1. TRẦN ANH DŨNG 2009. Báo cáo kết quả khai quật di tích kiến trúc cổ Nậm Dầu. Tư liệu Bảo tàng tỉnh Hà Giang.
2. TRÌNH NĂNG CHUNG 2005. Báo cáo kết quả khảo sát Khảo cổ học khu vực xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Tư liệu Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang
3. TRẦN ANH DŨNG 2006. Báo cáo khai quật di tích chùa cổ Núi Man. Tư liệu Bảo tàng Tuyên Quang.
4. TRẦN ANH DŨNG và LẠI VĂN TỚI 2009. Báo cáo khai quật di tích chùa cổ Núi Man (lần thứ hai năm 2007). Tư liệu Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang.
5. TRẦN ANH DŨNG 2009. Báo cáo kết quả đào thám sát di tích chùa Bảo Ninh Sùng Phúc. Tư liệu Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang.


Trần Anh Dũng
Số lần đọc: 1402
http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=13607
Ngày đăng: 25.08.2010

Nhãn: ,

Khai quật các ngôi chùa cổ: Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc Ở Tỉnh Tuyên Quang


Trần Anh Dũng
Chùa Khuân Khoai có tên chữ là Bảo Ninh Sùng Phúc tự vốn là tên một ngôi chùa cổ được dựng vào thời Lý được dựng trên đồi Khuân Khoai (tiếng Tày có nghĩa là khoai sọ), thuộc Làng Tạc, thôn Vĩnh Khoái, xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Làng Tạc nằm trong một thung lũng rộng cực đẹp, sơn thuỷ hữu tình. Phía đông - tây là một con suối lớn mang tên suối Cả, chảy ngang qua di tích theo hướng đông tây. Xung quanh thung lũng là các dãy núi cao. Dãy núi phía sau (bắc) có tên là Pù Đán Hán (núi hình con ngỗng - ảnh 1) ; phía tây nam là dãy Pù Đán Khao (núi Đá Trắng); phía đông là dãy Pù Khoét (núi Quạt).

Di tích đồi Khuân Khoai (Pù Khuân Khoai, còn có tên là Pù Chùa) nằm ở giữa của thung lũng trên đỉnh cao của một quả đồi nhỏ nằm ở phía bắc làng Tạc, bao quanh là các dải núi liên hoàn theo thế hình tay ngai. Đó là các núi: Đán Hán (Con Ngỗng) phía sau đồi, Đán Khao (Đá Trắng)- phía tây nam, núi Quạt (Pù Khoét) - phía đông. Trước đây đường đi lên chùa Khuân Khoai chỉ có một con đường mòn nhỏ đi vòng từ phía tây nam theo sườn đồi thoai thoải; cuối những năm 90 người ta đã làm một con đường khác đi lên chùa từ hướng đông nam như hiện tại.

Khoảng 30, 40 năm trước đây, nhân dân cho biết vùng này cây cối rậm rạp, hoang vu, ít người qua lại. Trên đỉnh đồi có ba nhà thờ lợp bằng lá cọ.

Chùa Khuân Khoai có tên chữ là Bảo Ninh Sùng Phúc, theo nội dung văn bia thì chùa được khởi dựng vào cuối mùa xuân của năm Đinh Hợi, niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thời Lý Nhân Tông (năm 1107). Văn bia không cho biết năm chùa dựng xong và năm khắc bia. Tuy nhiên trang trí văn bia đã cho biết chính xác đây là tấm bia thời Lý. Có lẽ nó được dựng ít lâu sau khi khánh thành chùa. Chùa do thổ tù Hà Hưng Tông Tri châu Vi Long, tức huyện Chiêm Hoá, giữ chức Phò ký lang Đô tri tả vũ vệ đại tướng quân, Kim tứ quang lộc đại phu, Kiểm hiệu Thái phó Đồng trung thư, Môn hạ bình chương sự, kiêm Quản nội khuyến nông sự, Thượng trụ quốc, được phong thực ấp 3900 hộ, thực thực phong 900 hộ.

Họ Hà tính đến Hà Hưng Tông là có 15 đời làm Tri châu Vị Long trong đó có 3 lần làm đến Thái bảo và Thái phó của triều Lý. Ông của Hà Hưng Tông lấy công chúa thứ ba của vua Lý Thái Tổ. Hà Hưng Tông lấy công chúa Khâm Thánh con vua Lý Nhân Tông năm 1082 khi ông mới 14 tuổi. Bố của Hà Hưng Tông có công đã cùng với Lý Thường Kiệt đánh vào châu Ung, châu Khâm (của nhà Tống). Việc nghiên cứu chùa Khuân Khoai góp phần vào việc nghiên cứu truyền thống chống giặc ngoại xâm của đồng bào các dân tộc thiểu số phía bắc cùng truyền thống đoàn kết đấu tranh bảo vệ tổ quốc của đồng bào miền xuôi và miền ngược. Bia kí và các di vật từ lòng đất của chùa Khuân Khoai góp phần vào việc nghiên cứu văn hoá lịch sử và nghệ thuật thời Lý. Đây là ngôi chùa thứ hai trên đất Tuyên Quang đã được khai quật khảo cổ học, vì vậy nó có giá trị chân thực trong việc tìm hiểu lịch sử văn hoá xã hội của vùng đất Chiêm Hoá nói riêng, của vùng đất Tây Bắc Việt Nam nói chung.

Chùa Khuân Khoai, cho đến những năm 80 của thế kỉ XX hầu như đã bị cây cối che phủ, đường lên rậm rạp và dốc. Hầu như toàn bộ nền chùa đã bị cây cối che lấp. Được sự chỉ dẫn của nhân dân địa phương về sự có mặt của một tấm bia đá ở khu vực phía nam đồi Khuân Khoai, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang đã mở một cuộc điều tra và tìm được tấm bia làm bằng đá xanh xám nhạt, mịn; cao 1,45m; rộng 0,80m, đặt trên lưng một con rùa. Bia hình chữ nhật, dáng bia cong hình vòng cung. Phần trán bia, phía trên trang trí hình cúc dây và các đường xoắn ốc hình dấu hỏi, chính giữa trán bia khắc 6 chữ đại tự : BẢO NINH SÙNG PHÚC TỰ BI. Hai bên dòng đại tự khắc chìm hai con rồng chầu. Đây là loại rồng bờm, thân, hình sin, không có vảy, mào trên, mào dưới hình lá đề, miệng nhả ngọc, xung quanh là mây hình móc xoắn. Hai bên diềm dọc, một bên trang trí hoa dây hình sin theo kiểu hoa lá, bên còn lại trang trí hoa dây hình sin theo kiểu móc xoắn nhiều vòng. Diềm dọc của mặt sau mỗi bên khắc chìm bảy đường tròn đồng tâm có nhiều lớp. Một bên diềm dọc trang trí xen kẽ hình rồng và hình hoa cúc. Khoảng cách giữa mỗi đường tròn trang trí hoa lá hình cây dương xỉ. Bên diềm dọc còn lại trang trí bảy con rồng trong bảy đường tròn, khoảng cách giữa mỗi đường tròn trang trí hoa lá hình cây dương xỉ. Rồng trong đường tròn là loại rồng run, thân mảnh, uốn nhiều khúc. Các diềm ngang của mặt bia trước và sau trang trí băng sóng nước hình núi có ba lớp. Ở dưới chân của mỗi một cột sóng nước đều có hoa mai 5 cánh. Nhìn chung phong cách trang trí bia rậm rạp, chi tiết. Phong cách trang trí và mô típ trang trí cho thấy đây là một tấm bia thời Lý muộn.

Về tấm bia, đã có một số bài viết đề cập đến, các tác giả cũng đều không có những bằng chứng để khẳng định vị trí của ngôi chùa. Theo nội dung văn bia thì chùa được khởi dựng vào cuối mùa xuân của năm Đinh Hợi, niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thời Lý Nhân Tông (năm 1107). Văn bia không cho biết năm chùa dựng xong và năm khắc bia. Có lẽ nó được dựng ít lâu sau khi khánh thành chùa.

Vấn đề đặt ra là, liệu tấm bia này có được đặt trên đúng nền chùa cũ không? Người ta vẫn chưa biết chính xác vị trí ngôi chùa này nằm ở đâu, ngoại trừ sự có mặt của một tấm bia đá khắc vào thời Lý. Liệu dưới lòng đất có còn dấu vết gì để chứng minh rằng nơi đây vốn xưa kia đã từng tồn tại một ngôi chùa cổ, rằng tấm bia là của ngôi chùa này như truyền thuyết đang lưu hành?

Kết quả đào thám sát đã tìm được một đoạn nền móng kiến trúc được kè đá cuội và đá phiến cùng gạch ngói thời Lý, trong đó có cả viên gạch hình chữ nhật còn nguyên vẹn. Có lẽ đây là kiến trúc chính nên bề mặt móng được kè rộng hơn theo kiểu móng bè. Tại đây tìm được khá nhiều hiện vật thời Lê thế kỷ XV- XVI như mảnh gốm trắng trang trí sóng nước hình vảy cá, gốm hoa lam, sành thời Lý. Và đặc biệt nhiều là các các chi tiết kiến trúc thời Lê thế kỷ XVII như con kìm hình đầu rồng, diềm mái kiến trúc hình răng cưa, diềm mái hình lá đề, mảnh nghê (?), lá lan đằng ở đầu đao… Những bằng chứng này cho thấy đây là kiến trúc thời Lê Trung Hưng.

Ở đầu hồi của kiến trúc này mở một cửa ra vào rộng 1,80m, hơi dịch về phía tường sau. Thành cửa hai bên tận dụng gạch chữ nhật của thời Lý để xây cất. Móng kiến trúc này, về phía đông, do độ dốc, nên làm khá sâu, móng khá to.

Về di vật, đã phát hiện một số mảnh trang trí kiến trúc thời Lê, mảnh tháp đất nung, tường trang trí nổi hoa chanh, mảnh ngói, thời Lý, mảnh trang trí kiến trúc, mảnh chuông, đinh thuyền thời Lê...

Qua di vật phát hiện được như: mảnh bát gốm men trắng lòng in nổi bông hoa mai, bát men trắng vẽ lam trang trí cúc dây, đĩa men ngọc ngả vàng in lõm hình hoa cúc, đã cho thấy ngôi chùa có thể vẫn tồn tại đến thế kỉ XV. Dấu vết của vật liệu kiến trúc thế kỉ XVI cũng phát hiện được khá nhiều như ngói mũi vát với số lượng rất nhiều, trang trí diềm mái, đầu, thân rồng đất nung và các trang trí kiến trúc khác, có thể đoán định rằng ngôi chùa có thể được phục dựng lại vào khoảng thế kỷ XVI. Vật liệu kiến trúc và đồ dùng sinh hoạt thế kỉ XVII - XVIII phát hiện được ở đây, cùng với sự vắng mặt của hiện vật thế kỉ XIX có thể khẳng định được ngôi chùa chỉ tồn tại đến thế kỉ XVIII.

Chùa thời Lê, căn cứ vào móng kiến trúc, có thể có hai toà chính. Phía trước là tường hoặc kiến trúc phụ, móng đơn giản, chỉ là một hàng đá cuội bề mặt không dày. Tiếp đến là kiến trúc chính, chắc chắn là có một dãy nhà ngang phía trước, phía sau có thể là hậu cung (nền đất thứ ba cùng bậc thềm lên xuống kè đá).

Vào thời Nguyễn, di tích chùa Bảo Ninh Sùng Phúc đã hoàn toàn bị sập đổ, hiện vật chỉ tìm được một số mảnh lư hương Phù Lãng. Phía trước của nền đất thứ nhất đã có cây to cổ thụ mọc lên. Người ta đã dựng lên đây một ngôi chùa 3 gian lợp lá. Một vì kèo của ngôi chùa này nhân dân lấy về sau đó lại mang trả lại còn sót lại trong khu vực chùa. Cách đây vài chục năm trước, ngôi chùa lợp lá này cũng đổ nát nốt, kẻ gian đào trộm nền chùa, đá tảng bị lấy đi. Ngôi chùa quý vang bóng một thời nay không còn dấu vết trên mặt đất.

Di vật ở đây có đồ gốm men Việt Nam từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVII- XVIII, đồ sành và chủ yếu là đồ dùng sinh hoạt. Vật liệu kiến trúc thời Lý gồm có: tháp đất nung, gạch, ngói. Đặc biệt là trong quá trình san lấp để tạo nền móng chùa vào thế kỷ XV-XVI, người ta đã sử dụng cả những mảnh tháp vào việc san lấp nền kiến trúc. Do tháp bị vỡ nên không biết có bao nhiêu tầng. Chất kiệu sét dùng làm tháp mịn, bở, dễ bong tróc, hầu hết có màu đỏ tươi hoặc đỏ gạch. Những mảnh tháp đổ được tìm thấy bao gồm các bộ phận ở bệ tháp, đế tháp, tường và mái tháp.

Ngoài ra còn tìm được một số mảnh đầu đao cong giống như hình lưỡi cầy, mảnh đầu rồng phong cách tương đối khác so với những con rồng ở miền xuôi qua các bộ phận mép rồng, lưỡi rồng và hàm răng.

Các loại vật liệu kiến trúc như gạch bìa hình chữ nhật, (màu vàng nhạt, rộng còn nguyên, dài còn lại 29cm, rộng 21cm, dày 6cm), ngói sen hai cạnh vát, đầu mũi bằng, mấu hình thang, ngói vát…

Vật liệu kiến trúc thời Lê –Mạc gồm có hai giai đoạn: Diềm mái thời Lê Mạc thế kỷ XVI và diềm mái thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII- XVIII.

Diềm mái thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII- XVIII được làm dày hơn, thường có chiều dầy là 1,2cm, chất liệu lẫn nhiều cát thô ráp, dày 1,7cm. Diềm mái thời Lê Mạc thế kỷ XVI thường mỏng hơn, có màu xám nhạt. Bề mặt in nổi hoa mai, sen nhiều lớp cánh hoặc hình lá đề, chất liệu được làm từ sét mịn.Trang trí kiến trúc hầu hết là những trang trí hình thú, hoa lá, đầu rồng ở thế kỷ XVI, đều bị vỡ nhỏ.

Qua di vật và các di tích phát hiện được ở trong hai hố đào thám sát và trong phạm vi của chùa thì có thể thấy rằng đây là một di tích chùa cổ gồm có hai quần thể kiến trúc là chùa và tháp. Ngôi chùa mặc dù đã bị sập đổ, nhưng những đoạn đá kè bó nền nhà và các thành phần kiến trúc khác đã chứng minh sự tồn tại của nó qua nhiều thế kỉ. Ít nhất ở đây có hai lớp nền thời Lý và từ thời Lê - Mạc trở đi.

Dấu vết của thời Trần chỉ còn thấy được qua mảnh bệ hoa sen của một tháp đất nung nhỏ hơn, vài mảnh ngói mũi vát, một số đồ dùng sinh hoạt bằng sành và gốm men. Đây là những di tích, di vật có niên đại Trần sớm. Căn cứ vào niên đại tuyệt đối đã được ghi trên tấm bia cùng với các di vật, mặc dù còn ít ỏi do diện tích đào thám sát còn hạn chế, chúng tôi thấy rằng niên đại ghi trên tấm bia hoàn toàn trùng khớp với những di vật có niên đại sớm nhất phát hiện được ở đây. Điều này hoàn toàn khẳng định niên đại ghi trên tấm bia là chính xác, không có chuyện khắc lại niên đại trên bia như một số người đã chủ trương.

Về nội dung văn bia: nội dung văn bia chỉ đề cập đến dòng dõi họ Hà từ tổ là Hà Đắc Trọng đến Hà Hưng Tông, tổng cộng là 15 đời, không nói gì đến các đời sau. Khi nhắc đến Hà Hưng Tông, người soạn bia nhắc đến với sự tôn kính và dùng chức vị Thái phó để chỉ ông. Điều đó có nghĩa là bia được soạn khi Hà Hưng Tông có thể vẫn còn sống. Về người soạn bia là Lý Thừa Ân, được biết ông sống dưới hai triều vua là Lý Nhân Tông (1072- 1127) và Lý Thần Tông (1128 - 1137). Những điều này cũng phù hợp với niên đại ghi trên bia. Kết quả đào thám sát có cũng đã cho thấy dấu vết của nền kiến trúc thời Lý ở chính tại đỉnh đồi Khuân Khoai. Theo kể lại, tấm bia thời Lý khi mới được phát hiện cũng ở nguyên vị trí như hiện tại. Những di vật, mà đặc biệt là đồ dùng sinh hoạt, được tìm thấy tại chỗ, lại trùng khớp với niên đại của bia cũng đã cho thấy tấm bia và ngôi chùa cổ chắc chắn nằm tại vị trí này. Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc là di tích lịch sử, khảo cổ học quan trọng, là ngôi chùa cổ nhất hiện biết ở Tuyên Quang, mà như nội dung văn bia của chùa này đã cho biết rõ, nó được khởi dựng từ năm 1107. Ngoài việc ca ngợi công đức của dòng họ Hà, nó còn cho biết những sự kiện trong cuộc tấn công để phòng vệ vào Châu Ung, châu Khâm và châu Liêm trên đất Tống của quân dân Đại Việt với sự tham gia của đồng bào các dân tộc ít người vùng núi phía tây bắc, sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với vùng cao, chính sách giàng buộc (Ki mi) của triều Lý trong việc đoàn kết các dân tộc ít người ở vùng cao, đặc biệt là với các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số… Ngôi chùa tồn tại trong thời gian tương đối dài từ giữa thời Lý cho đến thế kỷ XIX. Dấu vết văn hoá thời Trần ở đây mờ nhạt, có nhiều khả năng ở thời này nó đã bị hoang phế, sau đó đến thế kỷ XVI nó dần dần được khôi phục lại. Dấu vết kiến trúc cùng những vật liệu và trang trí kiến trúc, đã khẳng định nơi nơi đây chính là vị trí của chùa Bảo Ninh Sùng Phúc đã được khởi dựng. Tại đây còn khá nhiều di vật của ngôi chùa còn nằm lại dưới lòng đất. Đó là những di sản văn hoá quý giá cần được sưu tầm nghiên cứu và trưng bày sau kết quả khai quật của các năm tới cùng với việc phục dựng lại ngôi chùa cổ theo kế hoạch của tỉnh Tuyên Quang. Tư liệu ở chùa Bảo Ninh Sùng Phúc có giá trị lớn phản ánh về cuộc phản công tự vệ vào châu Ung, châu Khâm, châu Liêm năm 1075. Cuộc phản công vào đất Tống tháng 10 năm 1075, có sự tham gia của bố Hà Hưng Tông (chức Thái phó), đã bắt được võ tướng cùng nhiều tù binh của nhà Tống. Ông đã huy động được quân dân người dân tộc thiều số của 49 động, 15 huyện tham gia vào cuộc phản công ba châu kể trên. Qua tư liệu này chúng ta được biết thêm rằng cuộc phản công của Lý Thường Kiệt vào đất Tống giành được thắng lợi vang dội, trong đó có nguyên nhân là đã đoàn kết được các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía bắc và được sự ủng hộ của các thổ tù. Tư liệu ở chùa Bảo Ninh Sùng Phúc có giá trị lớn, là một trong những tài liệu quan trọng để nghiên cứu chính sách Kimi của triều Lý. Thực chất của chính sách Kimi (ràng buộc) ở dưới triều Lý là chính sách đoàn kết dân tộc, thu phục các thổ tù miền núi, ràng buộc họ bằng quan hệ với hoàng tộc để cùng triều đình giữ gìn và bảo vệ vùng biên viễn xa xôi, nơi mà triều đình chưa thể trực tiếp với tay cai trị được. Đại việt sử kí toàn thư có 5 lần ghi chép về việc các vua Lý gả công chúa cho các châu mục như sau:

- “Kỷ Tỵ, niên hiệu Thuận Thành năm thứ hai [1029], tháng ba, ngày mồng 7, gả công chúa Bình Dương cho châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái (ĐVSKTT, tập 1. 1998: 252-253)”.
- “Bính Tý (Thông Thuỵ) năm thứ ba [1036], tháng ba, gả công chúa Kim Thành cho châu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận (tr. 258)”.
- “Bính Tý thứ ba [1036], mùa thu tháng 8, gả công chúa Trường Ninh cho châu mục châu Thượng Oai là Hà Thiện Lãm (ĐVSKTT, tập 1. 1998: 258)”.
- “Nhâm Tuất, [Anh Vũ Chiêu Thắng] năm thứ 7 [1082], (Tống Nguyên Phong năm thứ 5). Mùa xuân, gả công chúa Khâm Thánh cho châu mục châu Vị Long là Hà Di Khánh (ĐVSKTT, tập 1.1998: 281)”.
- “Đinh Mùi, Thiên Phù Khánh Thọ năm thứ nhất [1127], (Tống Tĩnh Khang năm thứ hai), tháng 12, gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh phủ Phú Lương là Dương Tự Minh (ĐVSKTT, tập 1. 1998: 295)”.


Văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc cũng có ghi việc gả công chúa Khâm Thánh cho châu mục châu Vị Long nhưng không phải là Hà Di Khánh mà lại chính là Hà Hưng Tông, khi đó ông mới 14 tuổi. Ở đây có sự khác nhau giữa Đại việt sử kí toàn thư và văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc. Phải chăng Hà Hưng Tông còn có tên nữa là Hà Di Khánh? Trước đó ông của Hà Hưng Tông cũng được vua Lý Thái Tổ gả công chúa thứ ba, điều này chỉ thấy ghi chép trong văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc.

Như vậy, riêng đối với châu Vị Long – một vùng biên viễn xung yếu đã được triều Lý rất quan tâm. Nhà Lý đã hai lần gả công chúa cho châu mục của tri châu Vị Long, ban cho tước vị cao như Thái bảo, Thái phó, thậm chí nhà vua còn nhận làm anh em kết nghĩa, sử dụng chính sách thân thiện cùnh với việc ban cho nhiều đặc quyền, đặc lợi để tranh thủ sự ủng hộ của các thổ tù người miền núi. Chính sách này thực sự có hiệu quả trong việc phòng thủ đất nước, đảm bảo được sự đoàn kết, sự kiểm soát của triều đình đối với các châu và thủ lĩnh của vùng biên viễn đó. Tư liệu ở chùa Bảo Ninh Sùng Phúc có giá trị lớn, là một trong những tài liệu quan trọng để tìm hiểu thân thế gia tộc của họ Hà. Văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, cho biết họ Hà, kể từ Hà Đắc Trung đến Hà Hưng Tông, trải qua 15 đời, là một dòng họ danh gia vọng tộc ở vùng Chiêm Hoá. Dòng họ này đã từng lập chiến công trong chiến dịch đánh châu Ung, châu Khâm của Lý Thường Kiệt, làm phên dậu vững chắc của nhà Lý. Mối quan hệ giữa họ Hà ở Chiêm Hoá và dòng họ Hà Chương, Hà Đặc thời Trần cũng là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Kết quả đào thám sát di tích đồi Khuân Khoai (Gò Chùa) đã cho hay tại đây có các dấu vết nền móng kiến trúc của nhiều thời. Trong đó nền móng kiến trúc có niên đại sớm nhất của thời Lý. Nền móng này cũng tương ứng với những vật liệu kiến trúc có niên đại thời Lý phát hiện trong hố thám sát. Di tích kiến trúc ở đồi Khuân Khoai phù hợp với vị trí và nội dung ghi chép trong văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc Tự Bi, cũng chính là một phần kiến trúc của chùa Bảo Ninh Sùng Phúc được khởi dựng dưới triều Lý Nhân Tông niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá (1107).

Kết quả đào thám sát ở di tích kiến trúc đồi Khuân Khoai cùng tấm bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc có giá trị văn hoá lịch sử to lớn, phản ánh chính sách đoàn kết dân tộc của triều Lý trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc. Là những tư liệu chân thực để tìm hiểu về dòng họ Hà nhiều đời làm châu mục và giữ trọng chức ở triều đình, một dòng họ có công trong việc chống ngoại xâm và giữ gìn biên cương tổ quốc.
           
Những di vật phát hiện được ở kiến trúc cổ trên đồi Khuân Khoai đã phần nào cho thấy những ảnh hưởng của văn hoá Việt từ vùng xuôi đối với vùng các dân tộc ở vùng núi.

Ảnh: Mảnh đầu rồng và mảnh tháp đất

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. NGÔ SĨ LIÊN 1998. Đại Việt sử ký toàn thư  (tập 1) - Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.       
2. TRẦN ANH DŨNG 2009. Báo cáo kết quả đào thám sát di tích chùa Bảo Ninh Sùng Phúc. Tư liệu Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang.
Trần Anh Dũng
Số lần đọc: 2579
http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=13631
Ngày đăng: 27.08.2010

Nhãn: ,

Top 10 công trình quyến rũ nhất thế giới

Thường Nga
Cũng như con người, một số công trình kiến trúc mang vẻ bề ngoài sẽ được miêu tả bằng từ gợi cảm. Và đây là danh sách 10 công trình kiến trúc gợi cảm nhất thế giới, theo bình chọn vừa công bố của trang web VirtualTourist.com. 

1. Gian triển lãm Quadracci, Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại Milwaukee (TP Milwaukee, bang Wisconsin, Mỹ)

Gian triển lãm Quadracci - Ảnh: Wikimedia

Gian triển lãm Quadracci là phần mở thêm của Bảo tàng Milwaukee, được hoàn thành năm 2001. Hình ảnh của Quadracci là sự kết hợp độc đáo của một du thuyền lộng lẫy, con chim bồ câu duyên dáng và một diễn viên múa hiện đại.
Bạn nhớ ngắm đôi cánh Burke Brise Soleil của Quadracci vào đầu và cuối ngày khi nó mở ra và đóng lại.

2. Tháp Absolute World (TP Mississauga, tỉnh Ontario, Canada)

Tháp Absolute World - Ảnh: Designbuild-network

Tháp Absolute World xoắn 180o từ chân tới đỉnh, gồm hai tòa nhà chọc trời cao 50 và 56 tầng. Không cần phải nói nhiều về tháp xoắn Mississauga, “siêu mẫu” của kiến trúc hiện đại này đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Dự kiến tháp được hoàn thành năm 2011.

3. Ngôi nhà Sonneveld (TP Rotterdam, Hà Lan)

Ngôi nhà Sonneveld - Ảnh: Wikimedia

Ngôi nhà kiên cố Sonneveld đã vượt trước thời đại khi được xây dựng vào năm 1933. Sonneveld được thiết kế theo phong cách hiện đại với những đường nét cân đối và sự kết hợp màu sắc rất táo bạo. 

4. Ngôi nhà Casa Batlló (TP Barcelona, Tây Ban Nha)

Ngôi nhà Casa Batlló; Barcelona, Tây Ban Nha - Ảnh: Wikimedia

Casa Batlló vốn được thiết kế cho một gia đình trung lưu với tên gọi địa phương là Casa dels ossos (Ngôi nhà xương). Ngôi nhà trông rất ấn tượng, đặc biệt là tầng trệt với những họa tiết trang trí, ô cửa sổ hình ôvan không đều và công trình đá được chạm khắc mềm mại. Kiệt tác kiến trúc cong cong này khiến tất cả mọi người thêm kinh ngạc khi biết đã được hoàn thành cách đây hơn 100 năm, từ 1877.

5. Nhà hát Opera Sydney (TP Sydney, Úc)

Nhà hát Opera Sydney - Ảnh: Famouswonders

Được bắt đầu xây dựng từ tháng 3-1959 và hoàn thành năm 1973, cấu trúc này dường như không hề chịu ảnh hưởng của thời gian.

6. Cầu cạn Millau (tỉnh Aveyron, Pháp)

Cầu cạn Millau - Ảnh: Famouswonders

Được khánh thành tháng 12-2004, Millau là cây cầu cao nhất thế giới với trụ chống cao tới 343m. Đơn giản mà tuyệt đẹp, những đường nét cân đối và quy mô “đáng sợ” của cây cầu càng làm tăng thêm sức quyến rũ không thể phủ nhận của nó.

7. Cung điện Zwinger (TP Dresden, bang Saxony, Đức)

Cung điện Zwinger - Ảnh: Gaestefuehrer-dresden

Cấu trúc baroque nổi bật của Đức này chịu ảnh hưởng mạnh từ cung điện Versailles (Pháp). Đây là công trình cổ nhất trong danh sách được xây dựng trong giai đoạn từ năm 1710-1728, nhưng đã bị bom đạn phá hủy phần lớn trong Thế chiến thứ hai. Được trùng tu cẩn thận, nhất là phần mặt tiền, Zwinger đã lấy lại được vẻ đẹp vốn có.

8. Phòng hòa nhạc Walt Disney, (TP Los Angeles, bang California, Mỹ)

Phòng hòa nhạc Walt Disney - Ảnh: Blogspot

Được xây dựng năm 1999 và hoàn thành năm 2003, đây là phòng hòa nhạc thứ tư của Trung tâm âm nhạc Los Angeles với hơn 2.000 chỗ ngồi. Công trình cực kỳ nổi bật với những tấm ván sáng bóng lung linh phát sáng như kim cương trong ánh nắng mặt trời rực rỡ của California.

9. Cầu Penang (Malaysia)

Cầu Penang - Ảnh: Imageshack

Cầu Penang chính thức được khánh thành tháng 9-1985, nối đảo Penang với vùng đất liền Malaysia. Cầu có tổng chiều dài 13,5km, nằm trong số những cây cầu dài nhất thế giới. Với hình dáng uốn lượn, Penang trông giống tác phẩm điêu khắc hơn là một cây cầu. 

10. Ngôi nhà Fallingwater (hạt Fayette, bang Pennsylvania, Mỹ)

 
Ngôi nhà Fallingwater - Ảnh: Ggpht

Fallingwater do kiến trúc sư Mỹ nổi tiếng Frank Lloyd Wright thiết kế, được xây dựng năm 1936 và hoàn thành năm 1939. Ngay sau khi hoàn thành ngôi nhà được tạp chí Time ca ngợi là công trình đẹp nhất của kiến trúc sư Wright.

Xây dựng theo đơn đặt hàng của gia đình Kaufman - chủ hệ thống cửa hàng bách hóa Kaufman, "ngôi nhà dũng cảm” nằm trên đỉnh một thác nước, có tầm nhìn ra thiên nhiên xanh mát xung quanh.

Fallingwater đã được xếp vào danh sách Di tích lịch sử quốc gia của Mỹ (năm 1966), Công trình kiến trúc Mỹ tốt nhất mọi thời đại (năm 1991), Công trình kiến trúc được yêu thích nhất của Mỹ theo Viện Kiến trúc sư Mỹ (năm 2007).

TTO theo Reuters
http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=14015

Nhãn:

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2017

50+ công trình ấn tượng nhất của kiến trúc Nhật Bản hiện đại (P.1)

Có rất nhiều lý do để Nhật Bản là điểm đến lý tưởng cho mọi du khách, một trong số đó là những kiến trúc hiện đại đa đạng và sáng tạo ở đất nước này.

Đến Nhật Bản, ngoài việc thưởng thức hoa anh đào tươi đẹp, ăn những món ăn hấp dẫn ra, du khách còn được thưởng ngoạn những kiến trúc ấn tượng giữa đô thị hiện đại hay thậm chí là những nơi hẻo lánh, trong rừng. Dù ở đâu thì những công trình này đều mang đến cho mọi người sự ngạc nhiên vì tính sáng tạo và ứng dụng cao của nó.

1. Khu tổ hợp trường mẫu giáo Fuji ở thành phố Tachikawa với thiết kế sáng tạo độc đáo, một khu vực của trường được xây dựng quanh cây Zelkova 50 tuổi đã sống sót qua nhiều thiên tai.

kiến trúc Nhật Bản
(Ảnh: tezuka architects)

2. Một ngôi nhà trong rừng độc đáo với hồ bơi nhân tạo ngay trong nhà.

kiến trúc Nhật Bản
(Ảnh: Issei Suma)

3. Trường mầm non cao cấp Dai-Ichi Yochien ở thành phố Kumamoto được thiết kế một sân trữ nước mưa sạch để trẻ em chơi đùa.

kiến trúc Nhật Bản
(Ảnh: Youji No Shiro)

4. Tòa nhà “Ebisu East Gallery” độc đáo ở Shibuya, Tokyo

Ebisu East Gallery In Shibuya, Tokyo
(Ảnh: ykanazawa1999)

5. Một căn nhà nhỏ ở Tokyo

Tiny House In Tokyo
(Ảnh: Yasuhiro Yamashita)

6. Namba Parks – tổ hợp trung tâm mua sắm và văn phòng, nổi bật với công viên mái nhà trải dài 8 tầng lầu ở thành phố Osaka, Nhật Bản.

Namba Parks In Osaka
(Ảnh: osaka-info.jp)

7. Ngân hàng Sugamo Shinkin rực rỡ sắc màu ở Kawaguchi

Sugamo Shinkin Bank In Kawaguchi
(Ảnh: emmanuellemoureaux)

8. “Nhà-vườn” ở Tokyo

House & Garden, Tokyo
(Ảnh: Ryue Nishizawa)

9. Tòa nhà Acros được bao phủ bởi cây xanh ở Fukuoka, Nhật Bản

Acros Building In Fukuoka, Japan
(Ảnh: kbob.org)

10. Nhà nguyện Ribbon ở Hiroshima

Ribbon Chapel In Hiroshima
(Ảnh: Hiroshi Nakamura & NAP)

11. “Nhà trượt” khác lạ ở Nhật Bản

Unusual Slide House In Japan
(Ảnh: Studio LEVEL Architects)

12. Tháp Nakagin Capsule, Tokyo, Nhật Bản

Nakagin Capsule Tower, Tokyo, Japan
(Ảnh: interiorator.com,wikipedia.org)

13. Ngân hàng Sugamo Shinkin chi nhánh Shimura, Azusawa, Itabashi-ku.

Sugamo Shinkin Bank / Shimura Branch Azusawa, Itabashi-ku, Japan
(Ảnh: architizer.com)

14. Những căn hộ độc đáo ở Tokyo

Tokyo Apartments
(Ảnh: Sou Fujimoto Architects)

15. Ngôi nhà trong rừng Nasu Teepee hòa hợp với thiên nhiên, ở Nasu

Nasu Teepee House In Nasu, Japan
(Ảnh: Hiroshi Nakamura & NAP Co.)

16. Chi nhánh Omotesando ở Tokyo

Omotesando Branches In Tokyo
(Ảnh: Sou Fujimoto)

17. Ngôi nhà trong suốt ở Nhật Bản

Transparent House In Japan
(Ảnh: Sou Fujimoto Architects)

18. Căn nhà nhỏ ở Tokyo

Small House Project In Tokyo
(Ảnh: Unemori Architects)

19. Một nhà thờ trong rừng Sayama

Sayama Forest Chapel
(Ảnh: Hiroshi Nakamura & NAP)

20. Tòa nhà Dear Ginza với thiết kế nhôm độc đáo ở Tokyo, Nhật Bản

Dear Ginza Building By Amano Design Office, Tokyo, Japan
(Ảnh: archdaily.com)

21. Shell House – Thiết kế biệt thự nghỉ dưỡng giữa rừng thông ở huyện Kitasaku

A Large Shell Shaped Structure In The Middle Of The Woods In Kitasaku District
(Ảnh: ARTechnic architects)

21. Khu tổ hợp “Reversible Destiny Lofts” rực rỡ sắc màu ở Tokyo

Reversible Destiny Lofts In Tokyo
(Ảnh: Shusaku Arakawa)

23. Bảo tàng Miyahata Jomon ở Fukushima

Miyahata Jōmon Museum In Fukushima, Japan
(Ảnh: Furuichi and Associates)

24. Cổng Tsuzumi Mon, nhà ga Kanazawa ở Kanazawa

Tsuzumimon Gate, Kanazawa Station, Kanazawa
(Ảnh: muza-chan.net)

 25. Nhà hàng món tráng miệng Sunny Hills ở Omotesando, Tokyo

Sunny Hills Japan Dessert Shop In Omotesando, Tokyo
(Ảnh: Kengo Kuma and associates)
(Còn tiếp)
Theo Bored Panda
Bạch Vân
http://trithucvn.net/doi-song/50-cong-trinh-an-tuong-nhat-cua-kien-truc-nhat-ban-hien-dai-p-1.html

Nhãn: ,